Thông tin, tư liệu phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 9 năm 2026

I. TIN THÀNH PHỐ

1. Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm 

Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chương trình hành động số 32-CTr/TU, ngày 22/8/2026 thực hiện Quy định số 207-QĐ/TW, ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Kế hoạch số 05-KH/TW, ngày 26/7/2026 của Bộ Chính trị thực hiện Quy định số 207-QĐ/TW; Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW, ngày 28/7/2026 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm.

Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai, quán triệt các nội dung của Quy định số 207-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW đến toàn thể cán bộ, đảng viên trong đơn vị; đưa nội dung Quy định số 207-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW vào sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chuyên đề và chương trình bồi dưỡng đảng viên. Tăng cường tuyên truyền Quy định số 207-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW; kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, lợi dụng việc thực hiện Quy định số 207-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW để chống phá Đảng, Nhà nước. Đảm bảo 100% tổ chức cơ sở đảng tổ chức quán triệt Quy định số 207-QĐ/TW; 100% đảng viên được học tập, ký cam kết thực hiện. Thời gian hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Đồng thời, đưa việc thực hiện Quy định số 207-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW trở thành nhiệm vụ thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng; bổ sung vào chương trình công tác, chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm; nội dung kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện; gương mẫu chấp hành và chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm thuộc phạm vi quản lý. Kết quả thực hiện Quy định số 207-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý; phục vụ công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và thực hiện các chính sách cán bộ.

Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên; thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, việc chấp hành kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kịp thời phát hiện, nhắc nhở, uốn nắn, phòng ngừa các biểu hiện vi phạm ngay từ khi mới phát sinh. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo; tăng cường ứng dụng chuyển đổi số trong công tác quản lý đảng viên, kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tổ chức đảng và đảng viên, bảo đảm kết nối, liên thông, đồng bộ, an toàn, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và kiểm tra, giám sát theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Ban Thường vụ Thành ủy cũng yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định số 207-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW; chủ động phát hiện, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa. Rà soát, bổ sung nội dung kiểm tra, giám sát công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Quy định số 207-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW vào Chương trình kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ và hằng năm của cấp ủy và ủy ban kiểm tra.

Các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương và chấp hành Quy định số 207-QĐ/TW của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

2. Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành uỷ về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển

Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chương trình hành động số 31-CTr/TU, ngày 17/8/2026 về thực hiện Kết luận số 56-KL/TW, ngày 24/6/2026 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. 

Chương trình hành động ban hành nhằm phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém và chủ động hơn trong công tác phòng, chống tội phạm, góp phần thực hiện các mục tiêu đối với công tác đảm bảo an ninh trật tự mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026 - 2035.

Chương trình hành động đề ra 9 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong phòng, chống tội phạm. Xác định rõ công tác phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, lâu dài. Nhận diện sớm, dự báo đúng, chuyển mạnh từ tư duy ứng phó, xử lý sang chủ động phòng ngừa, quản trị rủi ro, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh quyết liệt, xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật mọi hành vi phạm tội.

Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026 - 2035. Thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Chú trọng xây dựng, bồi đắp nền tảng đạo đức, lối sống lành mạnh trong toàn xã hội. Chủ động, tích cực lan toả các giá trị tốt đẹp, nhân văn, tinh thần thường tôn pháp luật; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh trong đời sống thực và trên không gian mạng. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Công an nhân dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, tổ chức Công đoàn… trong công tác tuyên truyền, giáo dục cảm hoá, can thiệp sớm đối với nhóm đối tượng có nguy cơ cao vi phạm pháp luật.

Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng chuyên trách về an ninh, trật tự bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và không gian phát triển mới; ưu tiên địa bàn cơ sở.

Đảng uỷ UBND thành phố được giao rà soát, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tội phạm, đảm bảo đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thực tiễn, luật pháp quốc tế, hoàn thành trong quý IV/2026. Trong đó, tập trung đề xuất nghiên cứu áp dụng chính sách hình sự và chế tài nghiêm khắc hơn đối với các loại tội phạm về môi trường, an toàn thực phẩm, các hành vi xâm hại sức khoẻ cộng đồng; ngược lại, về chính sách hình sự trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ đề xuất theo hướng giảm hình phạt tù, tăng chế tài xử lý kinh tế, khuyến khích đầu tư nguồn lực vào phát triển kinh tế. Ưu tiên bố trí nguồn lực phòng, chống tội phạm cho các địa bàn trọng điểm, nhất là khu vực biên giới biển, hải đảo, địa bàn cơ sở.

Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo đột phá chiến lược trong công tác phòng, chống tội phạm; ưu tiên xây dựng hệ thống theo dõi, cảnh báo sớm và hoàn thiện kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, phấn đấu hoàn thành trong quý IV/2027. Nắm chắc tình hình, chủ động nhận diện và dự báo chiến lược, nhất là về các loại tội phạm, vi phạm pháp luật có thể phát sinh trong các không gian, lĩnh vực phát triển mới. Thúc đẩy hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm với các nước có tiềm lực về kinh tế, khoa học, công nghệ và có nhiều người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc.

Ban Thường vụ Thành ủy giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy chủ trì tiếp tục phổ biến, quán triệt Chỉ thị số 48-CT/TW và Kết luận số 56-KL/TW gắn với việc triển khai thực hiện các Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự của Quốc hội, Chính phủ, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng thành phố kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển. Các cấp uỷ đảng quán triệt, triển khai xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện đảm bảo sát thực tiễn, cụ thể và khả thi, hoàn thành trước ngày 30/9/2026, gửi về Đảng uỷ Công an thành phố để tổng hợp, theo dõi.

3. Tăng cường tuyên truyền các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV 

Ngày 19/8/2026, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy ban hành Công văn số 1212-CV/BTGDVTU đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương tăng cường tuyên truyền các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. 

Theo đó, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy đề nghị các đảng ủy trực thuộc Thành ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố bám sát nội dung các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV; các chương trình hành động, kế hoạch của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương; Hướng dẫn số 32-HD/BTGDVTU, ngày 30/7/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy để tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; qua đó tạo sự thống nhất cao về nhận thức, nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, quyết tâm chính trị, hành động quyết liệt, hiệu quả trong triển khai thực hiện, tạo động lực phát triển thành phố và đất nước.

Sử dụng linh hoạt, hiệu quả các hình thức tuyên truyền phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị, địa phương như: trên báo chí, mạng xã hội, nền tảng số, hệ thống truyền thanh cơ sở, hội nghị, tọa đàm, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở, tài liệu, ấn phẩm, hoạt động văn hóa, văn nghệ… Qua đó làm rõ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của các nghị quyết, quy định, kết luận của Trung ương, nhất là những nội dung mới, sửa đổi, bổ sung.

Gắn tuyên truyền các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV với tuyên truyền quá trình triển khai thực hiện tại thành phố, nhất là việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; phát triển kinh tế biển, cảng biển, dịch vụ logistics; bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; kịp thời thông tin, giải thích, tạo đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Kịp thời phát hiện, biểu dương các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, có cách làm hay, hiệu quả trong quá trình triển khai thực hiện các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, lan tỏa sâu rộng trong xã hội.

Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, định hướng dư luận xã hội. Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, lợi dụng việc thực hiện các nghị quyết, quy định, kết luận của Trung ương để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

 Đối với các cơ quan báo chí, truyền thông thành phố, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy đề nghị tăng cường các chuyên trang, chuyên mục, bài viết chuyên sâu về các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV. Phản ánh sinh động kết quả triển khai thực hiện tại thành phố; làm rõ những khó khăn, vướng mắc và kịp thời đưa ra các giải pháp hiệu quả trong triển khai thực hiện. Chú trọng khai thác thông tin tư liệu chính thống; tăng cường thông tin tích cực, chủ động đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch.

4. Kế hoạch triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tiếp tục đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số” trên địa bàn thành phố 

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành uỷ ban hành Kế hoạch số 74-KH/BTGDVTU ngày 04/8/2026 về triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tiếp tục đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số” trên địa bàn thành phố.

Kế hoạch được ban hành nhằm triển khai Phong trào theo hướng thiết thực, hiệu quả, đi vào chiều sâu, gắn với nhu cầu thực tiễn của người dân, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Tạo chuyển biến rõ nét trong nâng cao kỹ năng số, năng lực sử dụng các nền tảng, dịch vụ số thiết yếu của người dân; đổi mới phương thức làm việc, nâng cao chất lượng thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trên môi trường số.

Đồng thời, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, năng lực tổ chức thực hiện và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị. Đổi mới phương thức triển khai theo hướng 6 rõ (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền); lấy dữ liệu số, sản phẩm số và mức độ thụ hưởng của người dân làm căn cứ đánh giá hiệu quả thực hiện. Tiếp tục nhân rộng, lan tỏa các mô hình hay, cách làm sáng tạo, bảo đảm Phong trào mang lại kết quả thực chất, bền vững, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trên địa bàn thành phố.

Kế hoạch đưa ra 5 định hướng triển khai gồm: (1) Phong trào “Bình dân học vụ số” cần gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chuyển đổi số của cơ quan, đơn vị, địa phương ; xác định thực hiện Phong trào là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng số của cán bộ, công chức, viên chức, người dân; (2) Tập trung triển khai Phong trào thực chất từ cấp cơ sở , gắn trực tiếp với nhu cầu sử dụng dịch vụ số của người dân và yêu cầu thực thi công vụ của cán bộ, công chức trên môi trường số. Phát huy vai trò của Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư trong công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân tham gia học tập trên nền tảng “Bình dân học vụ số”; (3) Phổ cập kỹ năng sử dụng các dịch vụ số thiết yếu, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân như: sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, định danh và xác thực điện tử, khai thác các nền tảng số phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh và đời sống; (4) Phát huy vai trò nòng cốt của các lực lượng tham gia triển khai Phong trào tại cộng đồng. Đổi mới phương thức tuyên truyền, hướng dẫn theo hướng “cầm tay chỉ việc”, hỗ trợ trực tiếp tại cộng đồng; tiếp tục xây dựng các mô hình điểm, cách làm hay, sáng tạo để nhân rộng trên địa bàn thành phố; (5) Tăng cường quản lý, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện Phong trào dựa trên dữ liệu. Khuyến khích khai thác hiệu quả nền tảng “Bình dân học vụ số” tại địa chỉ binhdanhocvuso.gov.vn, ứng dụng VNeID và các nền tảng số liên quan để hỗ trợ công tác học tập, bồi dưỡng, cập nhật và xác nhận kết quả phổ cập kỹ năng số.

Kế hoạch đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về Phong trào Bình dân học vụ số, tập trung tuyên truyền sâu rộng các quan điểm, chủ trương của Đảng, lan toả các thông điệp, chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hướng dẫn, tổ chức khai thác, sử dụng hiệu quả nền tảng “Bình dân học vụ số” phục vụ nhu cầu học tập số của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đồng thời phục vụ công tác quản lý, theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào trên địa bàn thành phố. Kịp thời tổ chức triển khai Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số” theo chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương.

Các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức triển khai học tập, đánh giá và xác nhận mức độ phổ cập kỹ năng số trên cơ sở hệ thống bài giảng và công cụ đánh giá kiến thức, kỹ năng số do Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng, thẩm định và triển khai trên nền tảng “Bình dân học vụ số”. Việc tham gia học tập trên nền tảng là bắt buộc đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong khu vực nhà nước; đồng thời khuyến khích người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và Nhân dân tích cực tham gia, gắn với nhu cầu thực tiễn và khả năng tiếp cận của từng nhóm đối tượng.

Củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của Tổ công nghệ số cộng đồng gắn với nhiệm vụ chuyển đổi số của chính quyền cấp xã, phường, đặc khu; huy động các cơ sở giáo dục, học sinh, sinh viên, đoàn viên, hội viên tham gia phổ cập kỹ năng số. Tiếp tục triển khai, nhân rộng các mô hình như: “Đại sứ số”, “Gia đình số”, “Chợ số - Nông thôn số”, “Mỗi công dân - Một danh tính số”, “Tổ công nghệ số cộng đồng”, “Thanh niên chung tay phổ cập kỹ năng số”… gắn với nhu cầu cụ thể của người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trên địa bàn…

5. Tuyên truyền Lễ Khai giảng năm học mới 2026 - 2027 

Ngày 14/8/2026, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy ban hành Hướng dẫn số 34-HD/BTGDVTU về Tuyên truyền Lễ khai giảng năm học mới 2026 – 2027. 

Thông qua công tác thông tin, tuyên truyền nhằm tạo khí thế phấn khởi, lan tỏa không khí vui tươi, trang trọng của “Ngày hội toàn dân đưa trẻ đến trường”; khơi dậy niềm tự hào về truyền thống hiếu học của thành phố Hải Phòng; động viên, khích lệ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh, sinh viên tích cực thi đua dạy tốt, học tốt ngay từ những ngày đầu năm học mới. Khẳng định sự quan tâm sâu sắc, toàn diện của Đảng bộ, chính quyền thành phố, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo; làm nổi bật nỗ lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trường lớp khang trang, xanh - sạch - đẹp; thực hiện hiệu quả phương châm “tất cả vì học sinh thân yêu”, tuyệt đối không để bất kỳ học sinh nào vì hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường.

Nội dung tuyên truyền tập trung tiếp tục quán triệt sâu rộng các nghị quyết, kết luận của Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; trọng tâm là Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; các chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 - 2027. Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chính sách an sinh xã hội đặc thù, ưu việt của thành phố Hải Phòng trong lĩnh vực giáo dục (chính sách hỗ trợ học phí, học bổng, chính sách đãi ngộ giáo viên và học sinh đạt thành tích cao, chăm lo học sinh khu vực hải đảo, vùng xa). Tuyên truyền việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới phương pháp giảng dạy, quản trị nhà trường và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong kỷ nguyên mới.

Tuyên truyền không khí Lễ Khai giảng và “Ngày hội toàn dân đưa trẻ đến trường”, Thư chúc mừng năm học mới của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các thông điệp, chỉ đạo của lãnh đạo thành phố gửi tới ngành Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng nhân dịp khai giảng năm học 2026 – 2027; công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, vệ sinh cảnh quan môi trường sư phạm của các trường học; tinh thần tổ chức Lễ Khai giảng trang trọng, gọn nhẹ, ý nghĩa, an toàn, tiết kiệm, lấy học sinh làm trung tâm, thực sự là ngày hội trọn vẹn của học sinh và thầy cô giáo. Phản ánh không khí hân hoan, háo hức của học sinh, phụ huynh và Nhân dân trong ngày tựu trường; các hoạt động thăm hỏi, động viên, dự Lễ Khai giảng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo thành phố và cấp ủy, chính quyền các địa phương tại các cơ sở giáo dục.

Tuyên truyền phong trào thi đua, khuyến học - khuyến tài và biểu dương các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; gương các nhà giáo tận tụy, sáng tạo, tâm huyết với nghề; các học sinh vượt khó vươn lên đạt thành tích xuất sắc trong học tập, rèn luyện. Đẩy mạnh tuyên truyền các hoạt động tiếp sức đến trường, phong trào khuyến học, khuyến tài; sự ủng hộ của các tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, con em gia đình chính sách, học sinh vùng hải đảo trước thềm năm học mới.

Bên cạnh đó, tăng cường thông tin chính thống, tích cực nhằm củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhà giáo, phụ huynh và học sinh vào định hướng đổi mới giáo dục. Chủ động nắm bắt dư luận xã hội; kiên quyết đấu tranh, phản bác kịp thời các thông tin xấu độc, tin giả, xuyên tạc, các luận điệu tiêu cực lợi dụng dịp đầu năm học (về các khoản thu - chi, đồng phục, quy chế thi, quản lý giáo dục...) để gây hoang mang dư luận hoặc làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngành Giáo dục và an ninh trật tự trên địa bàn.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy yêu cầu công tác tuyên truyền cần được triển khai đồng bộ, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền cổ động trực quan với tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, nền tảng số và mạng xã hội, qua sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền miệng; bảo đảm nội dung chuẩn xác, sinh động, phù hợp với từng đối tượng và yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp của thành phố.

II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI

1. Tập trung thực hiện 05 nhóm nhiệm vụ, đưa quyết sách Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV vào cuộc sống

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, ngay sau Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị phải tập trung làm tốt 05 nhóm nhiệm vụ sau[1]:

Thứ nhất, xác định đúng trọng tâm, thứ tự ưu tiên và những khâu đột phá cần tập trung thực hiện. Các quyết sách của Hội nghị có phạm vi rộng, tác động nhiều mặt và quan hệ chặt chẽ. Vì vậy phải triển khai thực thi ngay. Những nhiệm vụ có tính nền tảng, có sức dẫn dắt, lan tỏa phải được tập trung ưu tiên. Việc đã rõ, điều kiện đã chín muồi phải làm ngay, làm đến nơi đến chốn, làm hiệu quả; việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải được nghiên cứu kỹ; khi cần thiết, thí điểm có kiểm soát, vừa làm vừa đánh giá, đúng thẩm quyền. Phải giải quyết dứt điểm những khâu then chốt để mở đường thực hiện các nhiệm vụ còn lại.

Thứ hai, tổ chức thực hiện dưới sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng; phát huy đầy đủ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, phân công, kiểm tra, đôn đốc. Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo việc thể chế hóa; Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định, giám sát theo thẩm quyền. Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo xây dựng chương trình hành động; chỉ đạo Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội, phản ánh ý kiến Nhân dân. Toàn hệ thống phải hành động đồng bộ, thông suốt, hướng về cơ sở và Nhân dân.

Theo Quy định số 206 của Bộ Chính trị, các đồng chí Ủy viên Trung ương có trách nhiệm chủ trì hoặc chỉ đạo quán triệt, triển khai nghị quyết, kết luận Hội nghị tại địa phương, cơ quan, đơn vị. Tinh thần trách nhiệm ấy phải được quán triệt từ các đồng chí ủy viên Trung ương đến từng cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm Quy định về những điều đảng viên không được làm, thường xuyên tự soi, tự sửa; gương mẫu tuyên truyền, vận động Nhân dân; nói đi đôi với làm, nhận nhiệm vụ phải làm đến cùng, chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng và Nhân dân về kết quả công việc.

Thứ ba, phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã; bảo đảm 3 cấp vận hành thông suốt, phối hợp chặt chẽ, tương tác hiệu quả. Trung ương tập trung định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, xây dựng các nền tảng dùng chung, phân bổ nguồn lực lớn và kiểm tra việc thực hiện. Cấp tỉnh là cấp phải cải cách, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã và chịu trách nhiệm về kết quả công tác. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp thực thi, phục vụ Nhân dân, xử lý, giải quyết mọi vấn đề phát sinh từ thực tiễn cuộc sống, nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Do vậy, cấp xã phải được xây dựng đủ sức quản trị sự phát triển. Trung ương không làm thay địa phương; cấp tỉnh không ôm giữ việc cấp xã có thể làm tốt; khi công việc của cấp xã còn khó thực thi, khi chưa bảo đảm thẩm quyền, nhân lực, tài chính, dữ liệu, công cụ và hướng dẫn thì cấp tỉnh có trách nhiệm tháo gỡ và giải quyết, không để tồn đọng. Năng lực thực thi của cấp xã, sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo hiệu quả hoạt động của cả hệ thống.

Thứ tư, cụ thể hóa từng quyết sách thành chương trình, kế hoạch hành động; xác định rõ nguồn lực, lộ trình, sản phẩm và trách nhiệm thực hiện. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Trung ương, Bộ Chính trị đã được cụ thể hóa khẩn trương, đồng bộ; nhưng chất lượng, tiến độ thực hiện chưa đồng đều. Yêu cầu hiện nay là biến tốc độ ban hành thành tốc độ thực hiện, biến quyết tâm chính trị thành chuyển biến thực chất, kết quả cụ thể. Chương trình hành động của từng ban, bộ, ngành, địa phương, cơ sở phải rõ nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, người chịu trách nhiệm; bám sát mục tiêu chung, xuất phát từ thực tiễn, không rập khuôn, máy móc. Người lãnh đạo phải sâu sát, nắm được hơi thở, nhịp sống của địa bàn, lĩnh vực mình phụ trách; biết lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp và Nhân dân; chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện, đúng định hướng, đúng thẩm quyền, vì lợi ích chung.

Tiến độ phải được lồng vào từng nhiệm vụ, gắn với trách nhiệm cụ thể. Trong 6 tháng cuối năm 2026, phải bảo đảm bộ máy thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, hoàn thành cao nhất mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong nhiệm kỳ khóa XIV, phải thể chế hóa quyết sách, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tổ chức lại không gian, đổi mới mô hình phát triển. Hướng tới mục tiêu 2030, tầm nhìn 2045, phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo; chủ động phòng ngừa, ứng phó nguy cơ, thách thức; bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh con người, an ninh quốc gia và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Trong từng chương trình hành động, phải xác định rõ nội dung, phương thức và trách nhiệm thông tin, tuyên truyền về các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng; bảo đảm kịp thời, chính xác, dễ hiểu, thuyết phục; tạo thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, để Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng và tự giác thực hiện; chủ động định hướng dư luận, phản bác thông tin sai trái, xuyên tạc. Tổ chức thực hiện không chỉ là công việc của hệ thống chính trị, mà phải trở thành hành động sâu rộng của toàn dân.

Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát; đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm và kết quả thực tế. Phải kiểm đếm điểm nghẽn đã được tháo gỡ, nguồn lực đã được khơi thông, đời sống Nhân dân đã chuyển biến thế nào. Kết quả thực hiện phải là căn cứ quan trọng nhất để đánh giá cán bộ, nhất là người đứng đầu; biểu dương nơi làm tốt, bảo vệ người dám đổi mới; đồng thời xử lý nghiêm tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm chậm, làm hình thức. Mục tiêu, tiến độ, sản phẩm và kết quả thực hiện phải được công khai, minh bạch theo quy định để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân theo dõi, giám sát, phản ánh, kiến nghị; kịp thời phát hiện những nơi làm tốt để biểu dương, nhân rộng và những hạn chế, vướng mắc để chấn chỉnh, tháo gỡ.

2. Một số nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức đảng trong thời gian tới

Ngày 28/7/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 78-KL/TW về tình hình hoạt động của tổ chức đảng trong quý II/2026; trong đó yêu cầu triển khai thực hiện hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc và đồng chí bí thư cấp ủy tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt nghiêm túc, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm để cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng, nắm chắc và thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Trong đó, tập trung vào những nội dung mới trong các Quy định về thi hành Điều lệ Đảng, về những điều đảng viên không được làm; các nhiệm vụ sau sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tăng cường, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và dư luận xã hội; kịp thời định hướng, xử lý hiệu quả những vấn đề vướng mắc, phát sinh trong thực tiễn; xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Quán triệt, triển khai Kết luận số 58-KL/TW, ngày 26/6/2026 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, tập trung các giải pháp về xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên, đặc biệt chủ động các giải pháp đổi mới, đột phá trong công tác củng cố tổ chức cơ sở đảng, xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở, phát triển đảng viên để thực hiện hiệu quả các mục tiêu trong nhiệm kỳ. Chỉ đạo hoàn thành việc sắp xếp, thành lập tổ chức đảng ở thôn, tổ dân phố và kiện toàn chi ủy đồng bộ, thống nhất với việc sắp xếp, thành lập thôn, tổ dân phố theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức đảng ở cơ sở; chỉ đạo, hướng dẫn các chi bộ tổ chức sinh hoạt đảng vào ngày 3 hằng tháng hoặc trong tuần đầu tiên của tháng theo Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 23/7/2025 về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới phù hợp với điều kiện cụ thể của chi bộ; khắc phục tình trạng nghẽn mạng khi sử dụng ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử. Kịp thời rà soát, tổng hợp, thẩm định, đề nghị Ban Bí thư xét tặng Huy hiệu từ 80 năm tuổi Đảng trở lên đợt 2/9/2026; gửi Ban Tổ chức Trung ương trước ngày 10/8/2026. Đẩy mạnh xây dựng, nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị phục vụ chuyển đổi số ở cơ sở.

Kết thúc hiệu lực Quy định số 05-QĐi/TW, ngày 28/8/2018 của Ban Bí thư về kết nạp người vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình vào Đảng. Các ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương căn cứ kết luận của Ban Bí thư để triển khai thực hiện việc xem xét, kết nạp đảng viên đối với những người vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình theo quy định hiện hành của Đảng.

Giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương hướng dẫn, tổ chức quán triệt, tuyên truyền các nghị quyết, kết luận, quy định của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, báo cáo Thường trực Ban Bí thư kết quả việc tổ chức hội nghị trong toàn Đảng. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản của Trung ương về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác và quy chế làm việc của các loại hình tổ chức đảng bảo đảm đồng bộ, thống nhất, rõ việc, rõ thẩm quyền; phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở, phù hợp với mô hình tổ chức của Đảng trong giai đoạn mới theo Quy định thi hành Điều lệ Đảng, Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng và các nghị quyết, kết luận, quy định của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tham mưu, đề xuất Ban Bí thư quyết định tặng Huy hiệu từ 80 năm tuổi Đảng trở lên đợt 2/9/2026. Giao Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương tham mưu kế hoạch phân công các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trực tiếp dự và trao Huy hiệu Đảng cho các đảng viên từ 80 năm tuổi Đảng trở lên đợt 2/9/2026 tại các đảng bộ trực thuộc Trung ương.

3. Phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài trong kỷ nguyên mới

Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị, công tác người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều chuyển biến căn bản, toàn diện, góp phần nâng cao nhận thức, thống nhất hành động từ Trung ương đến địa phương, cả trong nước và nước ngoài. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đến nay với hơn 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ không ngừng lớn mạnh, phát triển, có cuộc sống ngày càng ổn định. Tỉ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng, độ tuổi ngày càng trẻ; một số người đã nắm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị nước sở tại. Đại đa số đồng bào hội nhập tốt, luôn tích cực gìn giữ truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và hướng về Tổ quốc, đóng góp quan trọng vào tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước, tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn định kiến, nhận thức và hành động chưa phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, thậm chí có hành động phá hoại mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và các nước sở tại, gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam; địa vị pháp lý, đời sống của cộng đồng người Việt Nam ở một số nước còn khó khăn; việc phát huy nguồn lực của cộng đồng phục vụ phát triển đất nước chưa tương xứng với tiềm năng; cơ chế phối hợp liên ngành có lúc, có nơi còn thiếu đồng bộ.

Để tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác người Việt Nam ở nước ngoài, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường hợp tác quốc tế và tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới, ngày 2/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Bộ Chính trị nêu rõ, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia; là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới; đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Công tác người Việt Nam ở nước ngoài có vai trò quan trọng trong triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Đảng, Nhà nước có trách nhiệm chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng và phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn của người Việt Nam ở nước ngoài.

Bộ Chính trị nhấn mạnh, trong giai đoạn mới, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn trong hành trình hội nhập, xây dựng và phát triển của đất nước.

Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận đặc biệt trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội. Phát huy điểm tương đồng, mục tiêu chung của người Việt Nam là ý thức dân tộc, lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, khát vọng phát triển, chung sức, đồng lòng xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Bộ Chính trị khẳng định, Đảng, Nhà nước luôn trân trọng, cầu thị, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc. Đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai.

Công tác người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, đồng bào ta ở trong và ngoài nước; được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, linh hoạt trên cơ sở thế mạnh của từng ban, bộ, ngành, địa phương, phù hợp với pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại.

Bộ Chính trị đề ra mục tiêu, xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng và phát triển ổn định; giữ gìn, lan tỏa truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị nhân văn, lịch sử và ngôn ngữ tiếng Việt đến thế hệ trẻ và các thế hệ người Việt mai sau; phát huy vai trò "đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam"; tăng cường vị thế, trách nhiệm, uy tín ở nước sở tại, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao sức mạnh mềm và uy tín quốc gia.

Khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và tinh thần tự hào dân tộc, phát huy vai trò là cầu nối hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với thế giới và là nguồn lực quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; góp phần lan tỏa, kết nối giá trị, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, đột phá, tạo môi trường thông thóang, thuận lợi để kết nối, thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực, trí tuệ của người Việt Nam ở nước ngoài; gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thông qua mạng lưới hệ sinh thái kết nối bền vững các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam toàn cầu, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Bộ Chính trị yêu cầu các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên tập trung quán triệt, triển khai thực hiện tốt các nhóm nhiệm vụ: Tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài; Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nâng cao vị thế, uy tín, phát huy tiềm năng, thế mạnh, tích cực đóng góp cho quê hương, đất nước; Xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đoàn kết, phát triển và tích cực hướng về quê hương đất nước; Phát huy hiệu quả nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ Tổ quốc; Phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài trong gìn giữ ngôn ngữ tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường gắn kết với quê hương, đất nước; Phát huy vai trò chủ thể của người Việt Nam ở nước ngoài trong công tác thông tin tuyên truyền; Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường cơ chế phối hợp và nguồn lực cho công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Trong tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết theo chức năng, nhiệm vụ được giao; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

4. Kỷ niệm Quốc khánh 2/9 - Mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Tại châu Âu, Hồng quân Liên Xô phối hợp với quân đội các nước Anh, Mỹ, Pháp, Canađa… liên tiếp giành thắng lợi, giải phóng nhiều quốc gia và tiến vào Béclin. Ngày 9/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh ở châu Âu kết thúc. Tại châu Á - Thái Bình Dương, quân đội phát xít Nhật rơi vào thế bị bao vây, uy hiếp nặng nề. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông, giải phóng vùng Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Ngày 14/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai chính thức chấm dứt. Tình hình ấy mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Trung ương Đảng nhận định: đây là thời cơ “ngàn năm có một” để Nhân dân ta vùng lên giành lại độc lập trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, thực dân Pháp quay trở lại và các thế lực bên ngoài can thiệp.

Ngày 9/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp khẩn, ra chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước rộng khắp. Ngày 12/3/1945, Trung ương ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, khẳng định: “Đây là thời cơ tốt để nhân dân ta vùng lên giành độc lập”.

Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân. Ngày 16/4, Tổng bộ Việt Minh chỉ đạo thành lập các Ủy ban dân tộc giải phóng từ Trung ương đến địa phương. Đầu tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo toàn quốc. Ngày 4/6/1945, Khu Giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập. Từ giữa năm 1945, cao trào kháng Nhật cứu nước lan rộng, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần diễn ra mạnh mẽ tại nhiều địa phương trên cả nước.

Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ngay trong ngày đã ra Quân lệnh số 1, phát động tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, phê chuẩn Lệnh tổng khởi nghĩa, thống nhất quốc kỳ nền đỏ sao vàng năm cánh, chọn “Tiến quân ca” làm quốc ca, và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ Lâm thời cách mạng Việt Nam) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cùng thời điểm đó, Người gửi thư kêu gọi toàn dân, nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Từ ngày 14/8/1945, tại nhiều địa phương, các cấp bộ Đảng và Việt Minh đã chủ động phát động khởi nghĩa. Ngày 18/8/1945, Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam giành được chính quyền ở tỉnh lỵ. Tại Hà Nội, sau cuộc mít tinh và tuần hành lớn ngày 17/8, ngày 19/8 hàng vạn quần chúng cùng các lực lượng cách mạng chiếm những cơ quan đầu não, giành chính quyền về tay Nhân dân. Thắng lợi ở Hà Nội tạo động lực mạnh mẽ cho cuộc tổng khởi nghĩa trên cả nước.

Ngày 23/8/1945, tại Huế, hàng vạn người tiến vào thành phố, chiếm các công sở trọng yếu và giành chính quyền trong hòa bình. Ngày 25/8/1945, cuộc khởi nghĩa thắng lợi tại Sài Gòn - Gia Định. Thắng lợi vang dội tại ba đô thị lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đất liền đến hải đảo - phong trào khởi nghĩa dâng lên như vũ bão. Chỉ trong vòng 15 ngày, từ giữa đến cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại tuyên bố thóai vị, chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố quyền độc lập, tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam trước thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - đánh dấu sự mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: kỷ nguyên độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh đất nước.

Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ôn lại thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tưởng nhớ công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ tiền bối cách mạng, anh hùng, liệt sĩ và đồng bào đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ niềm tự hào lịch sử, mỗi người Việt Nam tiếp tục bồi đắp lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

5. Tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

Ngày 28/7/2026, Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch số 06-KH/TW về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; trong đó nhiệm vụ của ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy; các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương; cấp ủy cấp xã cụ thể như sau:

Các nhiệm vụ của Ban Thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, gồm: Lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cụ thể hóa Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, xây dựng lộ trình, kế hoạch triển khai các đề án, nhiệm vụ liên quan bảo đảm đồng bộ, phù hợp với chủ trương thí điểm mô hình tổ chức đảng trong giai đoạn mới (hoàn thành trong năm 2026). Tập trung chỉ đạo thí điểm thành lập mới 2 đảng bộ cơ sở trực thuộc cấp ủy tỉnh, thành phố, gồm: Đảng bộ Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố và đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh, thành phố, đồng thời kiện toàn mô hình đảng bộ trực thuộc cơ sở là cấp trên trực tiếp của các chi bộ thôn, tổ dân phố theo đề án của Trung ương. Thực hiện điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác dân vận theo hướng dẫn của Trung ương (triển khai ngay sau khi có chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hoàn thành trong quý III/2026). Khẩn trương hoàn thành sắp xếp, tinh gọn các cơ quan báo, tạp chí, đơn vị sự nghiệp thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương theo các kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư (hoàn thành trong năm 2026 - 2027). Tiến hành rà soát, đánh giá, điều chỉnh việc sắp xếp, bố trí cán bộ cấp tỉnh, cấp xã sau hợp nhất, sáp nhập theo phân cấp quản lý cán bộ (hoàn thành trong năm 2026).

Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ngang tầm nhiệm vụ theo chủ trương, kết luận của Trung ương. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin, kỹ năng số gắn với yêu cầu thực tiễn từng vị trí việc làm, nhất là đội ngũ cán bộ trực tiếp tham mưu, quản lý và giải quyết công việc trên môi trường số (thực hiện thường xuyên). Tập trung cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đồng bộ với yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp (hoàn thành trong năm 2026).

Rà soát, đề xuất điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp xã nhằm khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo, trùng giẫm, giao thoa chức năng, nhiệm vụ; tình trạng cắt khúc, phân mảng trong quản lý giữa cấp tỉnh, cấp xã (hoàn thành trong năm 2026). Chủ động rà soát những đơn vị hành chính chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện hoặc phát sinh bất hợp lý trong quá trình vận hành; xây dựng phương án điều chỉnh, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc sắp xếp bên trong tổ chức bộ máy hệ thống chính trị địa phương, nhất là sắp xếp, tinh gọn đơn vị sự nghiệp công lập theo chỉ đạo của Trung ương.

Các nhiệm vụ của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương, gồm: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng lãnh đạo bằng chủ trương, định hướng chiến lược, kiến tạo, phát triển, thiết kế thể chế, quy chế, cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực (thực hiện thường xuyên). Nâng cao năng lực hoạch định chính sách và lãnh đạo phát triển thông qua việc đẩy mạnh nghiên cứu, dự báo, ứng dụng dữ liệu trong toàn bộ chu trình xây dựng, thực hiện và đánh giá nghị quyết (thực hiện thường xuyên). Đổi mới căn bản công tác đánh giá cán bộ, kiên quyết xoá bỏ tình trạng "cào bằng"; lấy sản phẩm đầu ra, hiệu quả giải quyết công việc làm thước đo cốt lõi. Gắn trách nhiệm cá nhân người đứng đầu với hiệu quả của tập thể; kiên quyết thay thế cán bộ đùn đẩy, né tránh trách nhiệm và kịp thời trọng dụng nhân tố có tư duy đổi mới sáng tạo, mang lại kết quả đột phá (thực hiện thường xuyên).

Tập trung rà soát, ưu tiên bố trí cán bộ, công chức có năng lực, chuyên môn sâu đảm nhiệm các vị trí trọng yếu, trực tiếp phục vụ nhân dân (đất đai, tài chính, tư pháp, công nghệ thông tin, tiếp công dân...). Tăng cường tự đào tạo, bồi dưỡng nội bộ, nhất là kỹ năng ứng dụng công nghệ số; chuẩn hóa các quy trình, biểu mẫu và thiết lập kênh hướng dẫn nghiệp vụ trực tuyến để hỗ trợ, tháo gỡ kịp thời vướng mắc thực tiễn. Lấy kết quả bồi dưỡng, nâng cao năng lực làm tiêu chí quan trọng trong đánh giá và sử dụng cán bộ (thực hiện thường xuyên).

Triển khai đồng bộ, thực chất Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài gắn với thúc đẩy cơ chế liên thông nguồn nhân lực giữa khu vực công và khu vực tư. Đẩy mạnh phát hiện, đào tạo, ưu tiên phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, người dân tộc thiểu số và tăng cường luân chuyển, bố trí cho các địa bàn, lĩnh vực trọng yếu. Khẩn trương thiết lập cơ chế đột phá nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và quản trị hiện đại; thực thi nghiêm túc, hiệu quả cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (thực hiện thường xuyên).

Tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; kiên quyết chống lợi ích nhóm, cục bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền; thực hiện nghiêm các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong công tác cán bộ (thực hiện thường xuyên). Áp dụng phương pháp quản trị theo dữ liệu, lượng hóa công việc để xác định nhu cầu biên chế thực tế; chuyển từ quản lý số lượng biên chế sang quản lý chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ (thực hiện thường xuyên). Tập trung hoàn thành việc bàn giao, tiếp nhận, chỉnh lý, phân loại, số hóa và quản lý tập trung hồ sơ, tài liệu, dữ liệu sau khi kết thúc hoạt động cấp huyện và sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã theo đúng quy định về văn thư, lưu trữ. Không để hồ sơ, tài liệu bị thất lạc, phân tán, xuống cấp hoặc khó truy cập; ưu tiên số hóa các hồ sơ liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp (hoàn thành trong năm 2026).

Rà soát toàn diện trụ sở, phòng làm việc, phòng tiếp công dân, bộ phận một cửa, kho lưu trữ, trang thiết bị, phương tiện làm việc, đường truyền, máy tính, chữ ký số, phần mềm chuyên ngành và các điều kiện thiết yếu khác; có phương án đầu tư, cải tạo, nâng cấp phù hợp với quy mô dân số, diện tích tự nhiên, khối lượng công việc, đặc thù địa bàn và yêu cầu chuyển đổi số của từng xã, phường, đặc khu (hoàn thành trong năm 2026). Rà soát, hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị và cá nhân, bảo đảm phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ sót hoặc đùn đẩy trách nhiệm trong thực thi công vụ. Thiết lập cơ chế kiểm soát nhiều tầng, kết hợp giữa kiểm soát theo chiều dọc từ cấp trên đối với cấp dưới và kiểm soát theo chiều ngang giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan. Giám sát theo dữ liệu, theo tiến độ, theo sản phẩm đầu ra, theo phản ánh của người dân và doanh nghiệp (thực hiện thường xuyên).

Tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành; gắn quyền hạn với trách nhiệm cá nhân, xác định rõ trách nhiệm của người tham mưu, thẩm định, quyết định và tổ chức thực hiện. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản trị, theo dõi, giám sát và lưu vết toàn bộ quá trình xử lý công việc; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong phát hiện, phòng ngừa và xử lý các biểu hiện lạm quyền, vi phạm hoặc lợi ích cục bộ (thực hiện thường xuyên).

Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và quy trình thực hiện của từng cấp, từng cơ quan. Tăng cường giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền, việc chấp hành quy chế làm việc và cơ chế phối hợp liên thông giữa các cơ quan kiểm tra của Đảng, thanh tra, kiểm toán, nội chính, tư pháp và các cơ quan liên quan; tăng cường chia sẻ dữ liệu, kết quả kiểm tra, giám sát nhằm hạn chế chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát. Thực hiện nghiêm cơ chế hậu kiểm, bảo đảm các kết luận và kiến nghị sau kiểm tra, giám sát được thực thi đầy đủ, kịp thời và hiệu quả (thực hiện thường xuyên).

Nhiệm vụ của cấp ủy cấp xã, gồm: Kết thúc hoạt động của đảng bộ các cơ quan đảng, đảng bộ ủy ban nhân dân cấp xã; thành lập chi bộ các phòng, ban chuyên môn, đơn vị cấp xã sau khi được cấp có thẩm quyền thông qua chủ trương (hoàn thành trong năm 2026). Tiếp tục sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, phổ thông ở các xã, phường, cơ sở y tế tại địa phương (hoàn thành trong năm 2026).

6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn mới và tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân

* Ngày 20/7/2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn mới; trong đó có một số nội dung quan trọng sau:

Quán triệt sâu sắc, thực hành triệt để quan điểm "Dân là gốc"; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển đất nước. Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, quản lý của Nhà nước, vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và người đứng đầu cơ quan, đơn vị xác định việc thực hiện dân chủ ở cơ sở là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm dân chủ hoặc lợi dụng dân chủ gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm về dân chủ và thực hành dân chủ, quyền và trách nhiệm công dân; hình thành văn hóa thực hành dân chủ gắn với tuân thủ pháp luật. Nâng cao chất lượng, chủ động dự báo, nắm bắt, phân tích và giải quyết kịp thời, hiệu quả thông tin dư luận xã hội, tình hình Nhân dân, nhất là kiến nghị của cử tri và Nhân dân trên ứng dụng công nghệ số. Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng, quản lý, điều hành, lề lối làm việc của chính quyền trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, theo hướng gần dân và có trách nhiệm với dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và số hóa các văn bản có nội dung liên quan đến Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, dễ tiếp cận, nhất là các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân như quy hoạch, đất đai, xây dựng, thuế, thủ tục hành chính... gắn với yêu cầu phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Kết thúc hoạt động của ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ các cấp. Cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy các cấp trực tiếp lãnh đạo việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, phân công chỉ đạo, chịu trách nhiệm việc thực hiện dân chủ ở cơ sở tại địa phương, cơ quan, đơn vị; phát huy vai trò, hiệu quả của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp ngoài nhà nước trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức về kiến thức, kỹ năng thực hành dân chủ ở cơ sở; đưa tiêu chí niềm tin, sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là một tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ, công chức trong thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao. Bố trí ngân sách, các nguồn lực phù hợp để tổ chức tốt việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Kịp thời khen thưởng, nhân rộng những mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, gương điển hình trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, thời hạn giải quyết, chế tài xử lý vi phạm trong thực hiện dân chủ hoặc lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đổi mới mạnh mẽ công tác giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực, hiệu quả.

* Ngày 20/7/2026 Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới; trong đó có một số nội dung quan trọng sau:

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và người đứng đầu; phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân. Rà soát, hoàn thiện nội dung, chương trình, giáo trình giáo dục lý luận chính trị theo hướng tinh gọn, hiện đại, liên thông, thiết thực; kịp thời cập nhật những thành tựu về lý luận và thực tiễn, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết mới của Đảng, bảo đảm tính khoa học, hệ thống, phù hợp với từng cấp học, bậc học và đối tượng đào tạo.

Đổi mới mạnh mẽ phương pháp và hình thức tổ chức giảng dạy theo hướng phát triển năng lực, lấy người học làm trung tâm; kết hợp linh hoạt giữa học trực tiếp và trực tuyến, chính khóa và ngoại khóa; tăng cường ứng dụng công nghệ số, học liệu số và phương pháp giáo dục hiện đại.  Xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, chuyên môn sâu, am hiểu thực tiễn, thành thạo phương pháp giảng dạy hiện đại. Hoàn thiện cơ chế quản lý và bảo đảm chất lượng giáo dục lý luận chính trị; xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ số đánh giá thống nhất, công khai, minh bạch; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, xác định rõ trách nhiệm, nội dung, phương thức phối hợp của từng chủ thể.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị; tăng cường phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức chính trị - xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan báo chí, truyền thông và cộng đồng xã hội trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tạo điều kiện để người học học tập, tu dưỡng và rèn luyện. Đẩy mạnh chuyển đổi số; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, học liệu và các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục lý luận chính trị.

7. Một số kết quả chủ yếu trong chuyến thăm New Zealand và Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Từ ngày 9 - 14/8/2026, nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Namthăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand.

Chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia và New Zealand trên cương vị mới ghi một dấu mốc lịch sử, khẳng định sự coi trọng cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam thúc đẩy quan hệ với hai đối tác ở Nam Thái Bình Dương - các mối quan hệ đã trải qua hơn nửa thế kỷ bền bỉ vun đắp, vượt mọi trở ngại của khoảng cách địa lý và thời gian. Chuyến thăm cũng góp phần thắt chặt quan hệ giữa cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với lãnh đạo các nước bạn bè, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn để Việt Nam và các nước tăng cường hợp tác, kết nối, tiếp tục đồng hành, hỗ trợ nhau và cùng vượt qua những biến động sâu sắc của tình hình khu vực và thế giới, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới.

Hai nước đã ra ba Tuyên bố chung, gồm Tuyên bố chung về làm sâu sắc quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Australia; Tuyên bố chung về nâng cao sức chống chịu, thích ứng và phục hồi kinh tế; và đặc biệt, Tuyên bố chung về tăng cường kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã mở ra mô hình hợp tác mới theo hướng nâng từ chuyển giao sang hợp tác cùng phát triển trong các lĩnh vực vốn được coi là động lực then chốt cho sự phát triển của nước ta trong kỷ nguyên mới.

Tại các cuộc hội đàm, hội kiến lãnh đạo Australia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, Australia là người bạn, đối tác tin cậy, có nhiều lợi ích chiến lược tương đồng với Việt Nam. Việt Nam trân trọng sự đồng hành và hỗ trợ của Australia trong quá trình phát triển đất nước, đồng thời mong muốn đưa quan hệ hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả. Hai bên bày tỏ tin tưởng rằng, nền tảng tin cậy chính trị, lợi ích ngày càng gắn kết và những động lực hợp tác mới sẽ đưa quan hệ Việt Nam - Australia bước vào giai đoạn phát triển sâu sắc hơn, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân và doanh nghiệp hai nước. Trong khi đó, Việt Nam và New Zealand cũng có mối quan hệ đối tác chặt chẽ, hiệu quả dựa trên nền tảng tình hữu nghị được vun đắp hơn 50 năm qua và cùng chia sẻ những giá trị tương đồng như yêu chuộng hòa bình, coi trọng sự phát triển bền vững.

Tuyên bố chung giữa Việt Nam và New Zealand nêu rõ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon cùng nhìn lại những thành tựu đạt được trong quan hệ song phương kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2025. Hai bên tái khẳng định nền tảng vững chắc của quan hệ Việt Nam - New Zealand, đồng thời nhất trí duy trì tiếp xúc chính trị cấp cao và tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương nhằm góp phần củng cố hệ thống dựa trên luật lệ.

Các cuộc hội đàm, hội kiến giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với lãnh đạo New Zealand đều nhấn mạnh yêu cầu khai thác mạnh hơn tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế; nhất trí mở rộng quy mô hợp tác kinh tế và thương mại, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do mà hai nước cùng tham gia như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)…, thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại, mở cửa thị trường cho các nông sản thế mạnh của hai nước.

Quyết tâm tăng cường kết nối doanh nghiệp hai nước để tạo nền tảng và hành trang cho Việt Nam và New Zealand tiếp tục vững bước trong giai đoạn phát triển mới đã được thể hiện rõ qua những phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị bàn tròn doanh nghiệp New Zealand-Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, thành công của hợp tác kinh tế Việt Nam-New Zealand sẽ không chỉ được đo bằng kim ngạch thương mại hay số lượng dự án, mà bằng chất lượng kết nối, hàm lượng công nghệ, mức độ tham gia vào các chuỗi giá trị mới, cùng lợi ích thiết thực mang lại cho doanh nghiệp và người dân hai nước.

Trên bình diện đa phương, Việt Nam và các đối tác Nam Thái Bình Dương khẳng định tiếp tục tăng cường hợp tác hơn nữa trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Là thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong ASEAN, Việt Nam cam kết tiếp tục là cầu nối gắn kết quan hệ giữa ASEAN với Australia và New Zealand.

Với các kết quả nổi bật, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã ghi mốc son trên hành trình phát triển quan hệ giữa Việt Nam với hai đối tác ở Nam Thái Bình Dương, góp phần tăng cường tin cậy chính trị và thúc đẩy hợp tác năng động, hiệu quả. Chuyến công tác cũng truyền tải thông điệp về sự trân trọng, quyết tâm vun đắp truyền thống hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam và hai nước bạn bè; để đối ngoại hoàn thành tốt nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới là kiến tạo không gian phát triển, kết nối nguồn lực và nâng cao sức mạnh phục vụ tương lai đất nước, đồng thời đóng góp vào hòa bình, ổn định, an ninh và phát triển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương cũng như trên thế giới.

Truyền thông quốc tế thông tin đậm nét về ý nghĩa và kết quả chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, từ ngày 9 - 14/8/2026. Truyền thông quốc tế cho rằng chuyến thăm, không chỉ đơn thuần là “kết bạn với phương Nam”, mà là một chiến lược được lên kế hoạch cẩn thận; thể hiện cách tiếp cận “ngoại giao cây tre” nhất quán của Việt Nam; thể hiện chiến lược phát triển ngoại giao thực tế, linh hoạt và cân bằng, đồng thời đẩy nhanh việc mở rộng tầm ảnh hưởng ngoại giao của Việt Nam vào khu vực Nam Thái Bình Dương[2]. Truyền thông Australia nhận định chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là minh chứng rõ nét cho quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện đang phát triển mạnh mẽ và mang lại lợi ích lâu dài. Phân tích sâu hơn về tầm vóc kinh tế song phương, truyền thông Australia[3] nhấn mạnh chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được xây dựng trên nền tảng một mối quan hệ đối tác đã phát triển ngày càng trưởng thành và vững chắc. Việt Nam sở hữu một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á, trong khi Australia đã nỗ lực suốt nửa thế kỷ qua để vun đắp tình hữu nghị vững chắc này[4]. Truyền thông New Zealand[5] đánh giá cao chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chiến lược đa dạng hóa quan hệ của New Zealand tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Qua các bài viết, tường thuật và những đánh giá công bố ngày 12-13/8, một điểm nổi bật được nhấn mạnh là quan hệ Việt Nam - New Zealand đang chuyển mạnh từ những cam kết chính trị cấp cao sang các chương trình hợp tác cụ thể, với trọng tâm là thương mại, đầu tư, giáo dục, nông nghiệp, khoa học - công nghệ, quốc phòng - an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu.

8. Xung đột Nga - Ukraina, căng thẳng Hoa Kỳ - Iran và những tác động đối với ổn định toàn cầu

Tình hình quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp trong bối cảnh xung đột Nga - Ukraina kéo dài tại Đông Âu, còn quan hệ Hoa Kỳ - Iran và an ninh Trung Đông trải qua nhiều đợt căng thẳng trong năm 2026. Mặc dù có nguyên nhân và diễn biến khác nhau, hai điểm nóng đều tác động đến hòa bình, ổn định, hoạt động hàng hải, thị trường năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cuộc xung đột Nga - Ukraina bước sang năm thứ năm kể từ ngày 24/2/2022. Ngày 24/2/2026, Đại hội đồng Liên hợp quốc tiếp tục thảo luận về tình hình Ukraina, cho thấy đây vẫn là một trong những vấn đề lớn đối với hòa bình và an ninh quốc tế. Các cuộc giao tranh, tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái tiếp diễn, gây thêm thương vong, thiệt hại cơ sở hạ tầng và làm gia tăng nhu cầu hỗ trợ nhân đạo. Trong khi thông tin do các bên công bố còn khác biệt, cục diện xung đột chưa ghi nhận bước chuyển có tính quyết định.

Cùng với những diễn biến trên chiến trường, sự hỗ trợ của phương Tây đối với Ukraina tiếp tục được duy trì. Tại Hội nghị thượng đỉnh Ankara ngày 8/7/2026, NATO tuyên bố các nước thành viên cam kết cung cấp 70 tỷ euro trang thiết bị quân sự, hỗ trợ và huấn luyện cho Ukraina trong năm 2026. Trước đó, Liên minh châu Âu đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế liên quan đến Nga; ngày 25/6/2026, Hội đồng Liên minh châu Âu gia hạn các biện pháp trừng phạt kinh tế đến ngày 31/7/2027. Những quyết định này phản ánh sự tiếp diễn của xung đột và những tác động ngày càng sâu rộng đối với quan hệ giữa Nga với Hoa Kỳ, NATO và Liên minh châu Âu.

Trong khi xung đột tại Đông Âu chưa được giải quyết, tình hình Trung Đông tiếp tục xuất hiện những diễn biến phức tạp. Căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Iran gia tăng trong những tháng đầu năm 2026, kéo theo các hoạt động quân sự và nguy cơ gián đoạn giao thông hàng hải tại eo biển Hormuz. Đây là tuyến vận tải có vai trò đặc biệt quan trọng đối với lưu thông năng lượng quốc tế; vì vậy, mỗi diễn biến tại khu vực đều tác động trực tiếp đến an ninh hàng hải và thị trường thế giới.

Trước nguy cơ xung đột tiếp tục leo thang, các nỗ lực ngoại giao được đẩy mạnh. Ngày 7/4/2026, Hoa Kỳ và Iran đạt thỏa thuận ngừng bắn tạm thời. Đến ngày 15/6/2026, hai bên tuyên bố đạt thỏa thuận hòa bình, tạo cơ sở cho việc giảm căng thẳng, khôi phục an ninh, an toàn tại Trung Đông và mở lại hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz.

Tuy nhiên, việc thực hiện thỏa thuận tiếp tục gặp khó khăn. Tại phiên họp ngày 2/7/2026, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ghi nhận thỏa thuận ngừng bắn chịu sức ép sau các vụ đụng độ quân sự và tấn công nhằm vào tàu thương mại tại eo biển Hormuz. Trước tình hình đó, các bên được kêu gọi tiếp tục kiềm chế, thực hiện nghiêm các cam kết, bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải và giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, phù hợp với luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Từ hai điểm nóng nêu trên, sức ép đối với kinh tế thế giới tiếp tục gia tăng. Xung đột tại Ukraina ảnh hưởng đến thị trường năng lượng, lương thực và hoạt động vận tải; căng thẳng quanh eo biển Hormuz tác động trực tiếp đến lưu thông dầu mỏ. Sự gián đoạn tại các tuyến cung ứng quan trọng có thể làm tăng chi phí bảo hiểm, vận tải và sản xuất, qua đó ảnh hưởng đến lạm phát, thương mại và triển vọng tăng trưởng của nhiều nền kinh tế.

Theo các chuyên gia, những diễn biến tại Đông Âu và Trung Đông cho thấy môi trường an ninh quốc tế tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, khó lường. Việc kiểm soát xung đột, duy trì đối thoại, thực hiện các cam kết đã đạt được và phát huy vai trò của Liên hợp quốc cùng các cơ chế đa phương có ý nghĩa quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển. Đồng thời, các quốc gia cần chủ động nâng cao năng lực dự báo, đa dạng hóa thị trường và nguồn cung, củng cố sức chống chịu của nền kinh tế trước những tác động từ bên ngoài.

III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP, ngày 13/7/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, ngày 4/10/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Nghị định gồm 12 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 31/8/2026. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 3a vào sau Điều 3 quy định về nguyên tắc xác định hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai như sau:

1- Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với đơn vị hành chính đặc khu được công nhận loại đô thị theo quy định của pháp luật thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở phường thì áp dụng mức xử phạt như đơn vị hành chính của phường; việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với đơn vị hành chính đặc khu thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở xã thì áp dụng mức xử phạt như đơn vị hành chính của xã.

2- Vợ và chồng chung quyền sử dụng đất thì áp dụng xử phạt vi phạm hành chính như đối với một cá nhân.

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 và bổ sung các điểm p, q, r, s vào sau điểm o khoản 3 Điều 4 theo hướng bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của mốc địa giới đơn vị hành chính; buộc thực hiện lại thủ tục hành chính về đất đai và buộc nộp lại các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giấy tờ giả đã sử dụng.

Bên cạnh đó, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 6 quy định việc xác định số lợi bất hợp pháp thu được từ hành vi vi phạm. Cụ thể, số lợi bất hợp pháp là số lợi được tính thành tiền do tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có được từ việc sử dụng đất sau vi phạm và phải nộp vào ngân sách nhà nước. Trường hợp hành vi vi phạm do nhiều tổ chức, cá nhân cùng thực hiện trên một thửa đất thì số lợi bất hợp pháp phải nộp được chia đều cho các tổ chức, cá nhân cùng vi phạm.

Một nội dung mới được bổ sung là: Trường hợp người vi phạm đã nộp các khoản tiền vào ngân sách nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm thì số lợi bất hợp pháp phải nộp được khấu trừ các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước.

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 16 quy định mức xử phạt đối với hành vi không đăng ký đất đai theo hướng bổ sung quy định về trường hợp không bị xử phạt. Cụ thể: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai, trừ trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 127 Luật Đất đai.

Ngoài ra, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Điều 30, Điều 31 về thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; cơ quan thanh tra chuyên ngành;…

 

[1] Bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

[2] Trang mạng Võng dịch (Trung Quốc) ngày 11/8.

[3] Trang thông tin của Viện Chính sách Chiến lược Australia (ASPI).

[4] Tờ Canberra Times, ngày 11/8.

[5] Trung tâm truyền thông châu Á (Asia Media Center) của New Zealand.

 

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy

 

Admin Ban Tuyên giáo
Tin tức sự kiện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0