I. TIN THÀNH PHỐ
1. Kết luận Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khoá I, nhiệm kỳ 2025-2030
Theo Kết luận số 302-KL/TU, ngày 08/7/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khoá I về kết luận Hội nghị Thành uỷ lần thứ 4, nhiệm kỳ 2025-2030, những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, tác động xấu đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và Hải Phòng nói riêng. Song, được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, các Bộ, ban, ngành Trung ương, cùng với sự nỗ lực, quyết tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp Nhân dân; Đảng bộ thành phố đã hoàn thành cơ bản toàn diện các mục tiêu nhiệm vụ đề ra. Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được triển khai đồng bộ; kinh tế - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng - an ninh được giữ vững; công tác an sinh xã hội được quan tâm.
GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 11,33%, cao nhất trong 5 năm qua, đứng thứ 3 toàn quốc, đứng đầu 7 thành phố trực thuộc Trung ương và thuộc nhóm 4 địa phương có tốc độ tăng trưởng trên 11%. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt gần 116 nghìn tỷ đồng, bằng 60% dự toán năm; thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ước đạt 3,1 tỷ USD, bằng 82% kế hoạch năm, tăng 175% so với cùng kỳ; sản lượng hàng hóa qua cảng ước đạt gần 96 triệu tấn, tăng 11,4% so với cùng kỳ. Tính đến hết ngày 30/6/2026, đã giải ngân vốn đầu tư công gần 16.500 tỷ đồng, bằng 42,3% kế hoạch giao cả năm, cao hơn bình quân chung cả nước (35,5%), đứng thứ 2 cả nước về số vốn đã giải ngân trong nhóm 10 địa phương dẫn đầu tỷ lệ giải ngân. Thành phố đã tổ chức khởi công, khánh thành nhiều dự án, công trình quan trọng; được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập Khu kinh tế chuyên biệt (quy mô hơn 5.300 ha) và Quy hoạch chung Khu kinh tế ven biển phía Nam (quy mô 20.000 ha), tạo động lực tăng trưởng mới của thành phố trong thời gian tới.
Các lĩnh vực văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, cải cách hành chính và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp đạt được nhiều kết quả tích cực. Năm 2025, Hải Phòng tiếp tục đứng thứ nhất toàn quốc ở cả Chỉ số cải cách hành chính và Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; nằm trong nhóm 5 địa phương có chất lượng điều hành nền kinh tế xuất sắc nhất cả nước. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hoạt động đối ngoại tiếp tục được mở rộng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong triển khai thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm đã bộc lộ các tồn tại, hạn chế như việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở một số địa phương còn lúng túng, hiệu quả chưa cao. GRDP và chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II, 6 tháng đầu năm 2026 đều chưa đạt mục tiêu đề ra. Một số động lực tăng trưởng phát huy hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của thành phố. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt như kỳ vọng; giải phóng mặt bằng và triển khai một số dự án trọng điểm, dự án ngoài ngân sách, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị còn chậm. Những tồn tại, hạn chế nêu trên do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm quý III và 6 tháng cuối năm 2026, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị thành phố tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm trên các mặt công tác.
Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, vận động nhân dân, các cấp uỷ, tổ chức đảng tiếp tục xây dựng Đảng bộ và toàn hệ thống chính trị thành phố thật sự đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh; kiên định mục tiêu phát triển. Nhanh chóng khắc phục các bất cập trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp qua Hội nghị sơ kết 01 năm thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp bao gồm 6 nhiệm vụ trọng tâm đã được chỉ ra tại Thông báo số 406-TB/TU, ngày 04/6/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy...
Về phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động đối ngoại, đảm bảo quốc phòng, an ninh, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố thống nhất thông qua Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP 6 tháng cuối năm và giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 13%/năm trở lên. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị khẩn trương xây dựng và ban hành Chương trình hành động; Kế hoạch thực hiện để cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết sau khi Nghị quyết được ban hành chính thức; tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế của thành phố theo kế hoạch đề ra. Đảng ủy UBND thành phố tham mưu định kỳ 3 tháng tổ chức sơ kết; 6 tháng, hàng năm tổ chức tổng kết việc thực hiện Nghị quyết.
Giao Đảng ủy Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện tốt 09 nhóm nhiệm vụ giải pháp cụ thể trong năm 2026 theo Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố. Đồng thời, quan tâm 14 nhiệm vụ trọng tâm như tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả các Nghị quyết, Kết luận quan trọng của Trung ương; Nghị quyết số 01/NQ-CP, ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; đặc biệt là Kết luận số 18-KL/TW, ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương, ý kiến kết luận, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị Chính phủ thường kỳ 6 tháng đầu năm 2026.
Kiên định mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt 13% trở lên. Khẩn trương ban hành Kế hoạch đầu tư công 2026-2030, điều chỉnh Kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công năm 2026, đảm bảo giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao; với số vốn khoảng 21 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng cuối năm.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực từ 50% trở lên đi đôi với việc rà soát, cắt giảm tối đa các quy trình nội bộ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Triển khai “cơ chế luồng xanh” trong giải quyết thủ tục hành chính về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, để đẩy nhanh tiến độ các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, bất động sản công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các dự án trọng điểm của thành phố.
Khẩn trương rà soát, lập, điều chỉnh “đường găng tiến độ” đối với các dự án trọng điểm, dự án có tác động lớn đến tăng trưởng bao gồm cả đầu tư công và đầu tư ngoài ngân sách với mục tiêu để quản lý, đôn đốc nhằm sớm đưa dự án vào khai thác đồng thời góp phần đảm bảo tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng cuối năm khoảng 210 nghìn tỷ đồng để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng đã đề ra.
Tập trung cao độ cho công tác giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân vốn đầu tư công. Tập trung đôn đốc thực hiện triệt để, hiệu quả các giải pháp xử lý các dự án có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, đưa các dự án vào hoạt động để khơi thông nguồn lực, tạo nguồn thu ngân sách. Tập trung tháo gỡ khó khăn về tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp. Đẩy nhanh công tác lập Quy hoạch chung thành phố đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075; hoàn thành, trình Thủ tướng phê duyệt trong năm 2026.
Nghiên cứu, triển khai thực hiện các nội dung theo Kết luận Hội nghị sơ kết việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; trọng tâm là đề xuất phương án sắp xếp các đơn vị hành chính chưa đáp ứng tiêu chí, nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính đặc biệt (đô thị hạt nhân), xây dựng hệ thống tiêu chí và phương án tổ chức các đơn vị hành chính phù hợp với không gian phát triển, yêu cầu quản trị và định hướng phát triển của thành phố.
Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng đảm bảo yêu cầu “đúng - đủ - sạch - sống", hoàn thành trong năm 2026 theo chỉ đạo của Trung ương. Chỉ đạo hoàn thành Đề án “Xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030” trong năm 2026.
Chỉ đạo đẩy mạnh sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, hướng tới mục tiêu phấn đấu giảm ít nhất 30% đầu mối cơ sở giáo dục công lập hiện có; Tổ chức tuyển dụng viên chức ngành Giáo dục ngay sau khi sắp xếp...
Tiếp tục thực hiện tốt chính sách khám sức khỏe định kỳ miễn phí ít nhất 01 lần/năm và lập hồ sơ sức khỏe điện tử theo chỉ đạo của Trung ương trong năm 2026 và những năm tiếp theo.Quan tâm công tác an sinh xã hội, tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại quan trọng của thành phố và giữ vững quốc phòng, an ninh…
Đảng uỷ các xã, phường, đặc khu tập trung thực hiện nhiệm vụ 6 tháng cuối năm, đặc biệt là các lĩnh vực thu ngân sách, giải phóng mặt bằng, giải ngân vốn đầu tư công, chủ động đề xuất, kiến nghị đối với những nội dung vượt thẩm quyền; khắc phục triệt để những khó khăn vướng mắc trong tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất, vận hành mô hình cấp uỷ, chính quyền địa phương 02 cấp được Thành phố giao qua sơ kết 01 năm hoạt động.
2. Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế GRDP 6 tháng cuối năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 đạt bình quân từ 13%/năm trở lên
Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 15/7/2026 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế GRDP 6 tháng cuối năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 đạt bình quân từ 13%/năm trở lên.
Năm 2026 là năm đầu tiên thành phố triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa quyết định trong việc tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu phát triển của cả giai đoạn 2026-2030. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I xác định mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 13%/năm trở lên, phấn đấu đạt 14%/năm. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030; trên cơ sở vị trí, vai trò và tiềm năng phát triển của thành phố, Trung ương giao Hải Phòng phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân từ 13% đến 14%/năm, cao nhất cả nước.
Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng rất cao, việc ban hành một nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết và cấp bách. Nghị quyết sẽ tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị; phát huy cao nhất vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị; huy động hiệu quả mọi nguồn lực; tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn; tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng bình quân 13-14%/năm trong giai đoạn 2026-2030.
Nghị quyết số 11-NQ/TU đã xây dựng 18 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cho 6 tháng cuối năm 2026 và 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cho giai đoạn 2026-2030.
10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cho 6 tháng cuối năm 2026 gồm: (1) Kiên định với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra; thường xuyên bám sát và linh hoạt trong lãnh đạo, điều hành và quyết liệt trong tổ chức thực hiện kịch bản tăng trưởng; (2) Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân 100% vốn đầu tư công năm 2026; sớm ban hành kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030; (3) Tăng cường thu hút đầu tư ngoài ngân sách; tháo gỡ vướng mắc khu công nghiệp, cụm công nghiệp; xây dựng quy trình đồng hành cùng nhà đầu tư; (4) Đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, bàn giao đất; hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai; (5) Tập trung xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, chậm tiến độ; hoàn thành kiểm kê, phân loại và xử lý tài sản công; (6) Đẩy mạnh phát triển nhà ở, ưu tiên nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; đôn đốc, xử lý các dự án phát triển nhà ở, sản xuất, kinh doanh chậm tiến độ; (7) Tập trung thực hiện đạt và vượt kế hoạch thu ngân sách nhà nước năm 2026; (8) Đẩy nhanh tiến độ lập, phê duyệt các loại quy hoạch phục vụ thu hút đầu tư và phát triển đô thị; (9) Đẩy mạnh cải cách hành chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (10) Một số nhiệm vụ khác, như: Tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương; trọng tâm là Nghị quyết số 226/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng. Rà soát, sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã chưa đạt tiêu chuẩn và nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính đặc biệt (đô thị hạt nhân) để điều phối phát triển, kết nối hạ tầng, dịch vụ công và các không gian kinh tế trọng điểm theo hướng dẫn của Trung ương, phù hợp với không gian, yêu cầu quản trị, định hướng phát triển của thành phố.
08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung cho giai đoạn 2026-2030 được đề ra gồm: (1) Rà soát, ban hành cơ chế, chính sách tháo gỡ điểm nghẽn về đầu tư, đất đai, quy hoạch; cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách hành chính, chuyển đổi số; (2) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững; (3) Hoàn thiện hệ thống quy hoạch; đầu tư hoàn thiện hạ tầng, phát triển nhà ở; (4) Tiếp tục thúc đẩy phát triển mạnh mẽ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; (5) Nâng cao chất lượng đầu tư công; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong triển khai dự án; (6) Tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; (7) Phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp và kinh tế tư nhân; phấn đấu có khoảng 87.000 doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030; (8) Bảo đảm quốc phòng, an ninh góp phần phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh đó, Nghị quyết đã xây dựng 08 phụ lục chi tiết để giao nhiệm vụ cụ thể tại theo nguyên tắc 6 rõ, đảm bảo việc tổ chức thực hiện hiệu quả, bao gồm: (1) Phụ lục về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026; (2) Phụ lục về một số nhiệm vụ trong giai đoạn 2026-2030; (3) Phụ lục về các dự án đầu tư công; (4) Phụ lục về các khu công nghiệp; (5) Phụ lục về các cụm công nghiệp; (6) Phụ lục về các dự án khu dân cư, khu đô thị, khu nhà ở; (7) Phụ lục về các dự án xác định giá đất năm 2026; (8) Phụ lục về các dự án thuê đất sản xuất, kinh doanh.
Căn cứ tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển của từng giai đoạn, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố yêu cầu các cấp uỷ, chính quyền chủ động rà soát, cụ thể hoá Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ hằng năm; kịp thời điều chỉnh, bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp cho phù hợp, bảo đảm hoàn thành cao nhất mục tiêu Nghị quyết đã đề ra.
3. Chỉ thị của Ban Thường vụ Thành uỷ về nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên địa bàn thành phố trong tình hình mới
Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chỉ thị số 15-CT/TU, ngày 10/7/2026 về nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên địa bàn thành phố trong tình hình mới
Ban Thường vụ Thành uỷ yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phải xác định phong trào thi đua “Dân vận khéo” là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cả hệ thống chính trị, là phương thức quan trọng để cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn đời sống Nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội.
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên về chất lượng, hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo”; đưa kết quả của phong trào trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của tập thể, cá nhân và người đứng đầu.
Đổi mới toàn diện nội dung, phương thức tuyên truyền phong trào thi đua “Dân vận khéo” theo hướng thiết thực, sinh động, dễ tiếp cận, có sức lan tỏa và tạo chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm, hành động của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền. Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, người có uy tín trong cộng đồng, chức sắc, chức việc tôn giáo, văn nghệ sĩ, trí thức, đoàn viên, hội viên, trong tuyên truyền, vận động, xây dựng và giới thiệu các mô hình, điển hình “Dân vận khéo”.
Các địa phương, cơ quan, đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu thực tiễn để lựa chọn mô hình có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên các mô hình gắn với phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị. Tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá của thành phố như: giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm; xây dựng “Chính quyền thân thiện vì Nhân dân phục vụ”, “Công sở thân thiện”; phong trào “Bình dân học vụ số”; cải cách hành chính, chuyển đổi số; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân; giải quyết kiến nghị, đơn thư, vấn đề nổi cộm ngay từ cơ sở; giữ gìn an ninh, trật tự; phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước.
Ở cấp thành phố và cấp xã, cấp ủy lãnh đạo toàn diện, chính quyền cụ thể hóa bằng chương trình, kế hoạch, cơ chế, chính sách và bố trí nguồn lực để tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy vai trò nòng cốt trong tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân tham gia; các cơ quan, đơn vị chủ động đăng ký, tổ chức thực hiện mô hình “Dân vận khéo” gắn với chức năng, nhiệm vụ được giao.
Ở thôn, tổ dân phố, chi bộ giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo; Ban Công tác Mặt trận, các chi hội, đoàn thể làm lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền, vận động: phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng, chức sắc, chức việc tôn giáo và các lực lượng tại chỗ trong tổ chức thực hiện. Việc xây dựng mô hình phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của địa bàn, ưu tiên giải quyết kịp thời những vấn đề nổi cộm, bức xúc, mâu thuẫn, kiến nghị phát sinh ngay từ cơ sở, góp phần giữ vững ổn định xã hội.
Bảo đảm các điều kiện để tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là bí thư chi bộ, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, cán bộ Mặt trận và đoàn thể ở cơ sở; chú trọng trang bị kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng, đối thoại với Nhân dân, nắm bắt tình hình, xử lý các tình huống phát sinh từ cơ sở, hòa giải, giải quyết mâu thuẫn và kỹ năng ứng dụng công nghệ số trong công tác dân vận.
Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá thực chất, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm thước đo. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” bảo đảm khoa học, khách quan, định lượng, phù hợp với từng khối, từng loại hình địa phương, cơ quan, đơn vị; gắn với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm, rõ thời gian, rõ kết quả”. Việc đánh giá phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể, hiệu quả mang lại, mức độ hài lòng của Nhân dân và khả năng duy trì, lan tỏa của mô hình; không lấy số lượng mô hình đăng ký làm thành tích.
Hằng năm, rà soát, lựa chọn các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” tiêu biểu để biểu dương, giới thiệu, xây dựng thành mô hình điểm và nhân rộng trong toàn thành phố. Định kỳ tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết, hội thi, diễn đàn, toạ đàm trao đổi kinh nghiệm; giới thiệu các mô hình, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả.
Chỉ thị này được phổ biến đến chi bộ.
4. Chỉ thị của Ban Thường vụ Thành uỷ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố
Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chỉ thị số 16-CT/TU, ngày 14/7/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Chỉ thị ban hành nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu về chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, Nghị quyết số 08-NQ/TU, ngày 29/01/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về chuyển đổi xanh thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng yêu cầu Đảng uỷ các xã, phường, đặc khu tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và thực hiện nghiêm Luật Bảo vệ môi trường và các quy định của Trung ương, Thành phố về quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu; phân công rõ nhiệm vụ cho từng cơ quan, đơn vị; tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường, quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đưa nhiệm vụ thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn vào tiêu chí đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của các cấp ủy đảng, địa phương và người đứng đầu. Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, đặc khu chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn.
Chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, triển khai linh hoạt, hiệu quả các chủ trương, quy định, giải pháp về quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; gắn việc thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn với xây dựng khu dân cư văn hóa, tổ dân phố văn hóa, gia đình văn hóa, đô thị văn minh, xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức gương mẫu, đi đầu thực hiện và tuyên truyền, vận động gia đình, người thân, Nhân dân nơi cư trú thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.
Lãnh đạo, chỉ đạo rà soát hiện trạng các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn; phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng lộ trình đóng cửa, cải tạo, phục hồi môi trường đối với các bãi chôn lấp không còn phù hợp; xử lý dứt điểm các điểm tập kết rác tự phát, không để phát sinh các điểm đổ thải trái phép; chuẩn bị các điều kiện để chấm dứt tiếp nhận, xử lý chất thải tại các bãi chôn lấp khi các nhà máy xử lý chất thải tiên tiến, hiện đại đi vào hoạt động. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Định kỳ sơ kết, tổng kết, kịp thời biểu dương, khen thưởng, đồng thời kiểm điểm trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân thiếu trách nhiệm, để xảy ra vi phạm hoặc không hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ được giao.
Đảng ủy Hội đồng nhân dân thành phố lãnh đạo Hội đồng nhân dân thành phố tăng cường giám sát; kịp thời kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
Đảng ủy Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách, quy định, quy trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu quản lý thống nhất trên địa bàn thành phố sau hợp nhất; hoàn thiện quy định về phân loại, thu gom, vận chuyển, trung chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ tiên tiến, hiện đại; phấn đấu trong năm 2027 hoàn thành, đưa vào vận hành 02 nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt tiên tiến, hiện đại. Chỉ đạo đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, lưu giữ, trung chuyển, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt sau phân loại.
Tiếp tục nghiên cứu quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng áp dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống quản lý, giám sát thông minh; công khai, minh bạch, hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận các quy định và thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Chỉ đạo nghiên cứu xây dựng cơ chế khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia đầu tư, cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và thị trường tái chế chất thải trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, nhân rộng các mô hình tự quản, xây dựng và phát huy các mô hình cộng đồng dân cư tự quản về bảo vệ môi trường, gắn với các phong trào thi đua, các cuộc vận động “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh - sạch - đẹp”; tăng cường giám sát việc thực hiện Chỉ thị tại cơ sở, phát huy vai trò của Nhân dân trong giám sát, phát hiện và phản ánh các hành vi vi phạm về quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.
Ủy ban kiểm tra Thành ủy chủ trì, phối hợp tham mưu đưa nội dung kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện công tác quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn vào Chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm của Ban Thường vụ Thành ủy; kịp thời tham mưu kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy chủ trì, phối hợp hướng dẫn, triển khai quán triệt Chỉ thị; chỉ đạo các cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền; chủ động định hướng thông tin, tuyên truyền, nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội...
Chỉ thị này được quán triệt đến các chi bộ, phổ biến sâu rộng đến Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức trên địa bàn thành phố.
5. Hướng dẫn tuyên truyền Nghị quyết số 06-NQ/TW và Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị trên địa bàn thành phố
Ngày 08/7/2026, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy ban hành Hướng dẫn số 30-HD/BTGDVTU về tuyên truyền Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của Bộ Chính trị trên địa bàn thành phố.
Hướng dẫn ban hành nhằm giúp cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hiểu rõ hơn, đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và việc phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; gắn với khát vọng xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố Cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái, đáng sống tầm cỡ khu vực Đông Nam Á, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của đất nước trong kỷ nguyên mới. Nêu cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là người đứng đầu trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện Nghị quyết 06, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị; cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động thiết thực, hiệu quả, tạo chuyển biến thực chất, rõ nét.
Nội dung tuyên truyền về bối cảnh, mục đích, ý nghĩa của việc ban hành Nghị quyết 06, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị; nội dung cơ bản, quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Nêu bật quan điểm, chủ trương mới, tư duy, cách làm mới trong triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; làm rõ việc vận dụng phù hợp với thực tiễn thành phố Hải Phòng, tạo bứt phá phát triển trong giai đoạn mới. Tuyên truyền, làm rõ vị thế mới của thành phố Hải Phòng sau hợp nhất - địa phương có quy mô kinh tế lớn thứ ba cả nước, trung tâm công nghiệp, cảng biển, logistics hàng đầu phía Bắc, cửa ngõ ra biển và đầu mối giao thương quốc tế trọng yếu của vùng đồng bằng sông Hồng…
Tuyên truyền, khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng, gắn bó chặt chẽ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của thành phố Hải Phòng. Tập trung tuyên truyền các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của thành phố, triển khai toàn diện các cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết số 226/2025/QH15 của Quốc hội, đặc biệt là Khu thương mại tự do thế hệ mới; hình thành các trung tâm logistics quy mô lớn gắn với hệ thống cảng biển, cảng hàng không, đường cao tốc, đường sắt tốc độ cao. Phấn đấu thu hút vốn đầu tư bình quân 5 - 6 tỷ USD mỗi năm, trong đó vốn FDI khoảng 4 - 5 tỷ USD…
Tuyên truyền quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 06, Nghị quyết 10 trên địa bàn thành phố, làm rõ việc cụ thể hóa, đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống và những kết quả đạt được ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị, gắn với kết quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp sau một năm triển khai thực hiện.
Tăng cường tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chủ động nắm bắt dư luận xã hội, đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc chủ trương, đường lối đối ngoại và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng, Nhà nước và của thành phố, nhất là trên không gian mạng.
Hình thức tuyên truyền thông qua sinh hoạt cấp ủy, chi bộ, hội nghị báo cáo viên, sinh hoạt của các đoàn thể thường kỳ; tổ chức hội thảo, tọa đàm trao đổi, thảo luận. Thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua hệ thống thông tin cơ sở, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội; các ấn phẩm, tài liệu, bản tin sinh hoạt nội bộ; hoạt động văn hóa, văn nghệ, cổ động trực quan, các nền tảng mạng xã hội, với nội dung, hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng.
6. Hướng dẫn tuyên truyền công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn thành phố
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy đã ban hành Hướng dẫn số 31-HD/BTGDVTU, ngày 18/7/2026 về tuyên truyền công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn thành phố.
Hướng dẫn ban hành nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và thống nhất hành động trong cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp Nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách của thành phố từ nay đến hết năm 2026. Phổ biến sâu rộng, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cơ chế, chính sách của thành phố; cổ vũ, động viên các cấp, các ngành và Nhân dân tích cực tham gia, phối hợp thực hiện, góp phần hoàn thành mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung” trong năm 2026. Nâng cao ý thức trách nhiệm của người sử dụng đất trong việc phối hợp cung cấp giấy tờ, thông tin, thực hiện kê khai, đăng ký đất đai; đẩy mạnh sử dụng dịch vụ công trực tuyến; đồng thời chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phản bác các thông tin sai sự thật, luận điệu xuyên tạc và các hành vi lợi dụng để lừa đảo, gây phức tạp tình hình, bảo đảm ổn định xã hội.
Nội dung tập trung tuyên truyền, phổ biến sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của thành phố về chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý đất đai.
Tuyên truyền làm rõ mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai: là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; là công cụ quản lý nhà nước về đất đai minh bạch, hiệu quả, rõ trách nhiệm; bảo đảm toàn bộ các thửa đất trên địa bàn thành phố đều được tạo lập dữ liệu số, quản lý, cập nhật biến động theo thời gian thực, kết nối, chia sẻ, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác.
Tuyên truyền về quyết tâm chính trị, sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố và cấp ủy, chính quyền các cấp; về nhiệm vụ, giải pháp, phân công trách nhiệm và tiến độ thực hiện theo nguyên tắc “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ trách nhiệm và rõ thẩm quyền); nhấn mạnh các mốc tiến độ: trong tháng 7/2026 xử lý dứt điểm nhóm thửa đất đã có hồ sơ nhưng chưa đạt “đúng - đủ - sạch - sống”; cơ bản hoàn thành khối lượng xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trước tháng 10/2026; hoàn thiện, kiểm tra chất lượng, đồng bộ, vận hành trong tháng 11 và tháng 12/2026.
Tuyên truyền, làm nổi bật lợi ích thiết thực đối với người dân và doanh nghiệp khi hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai. Chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời; đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thông tin sai sự thật, xuyên tạc; cảnh báo, hướng dẫn Nhân dân nhận diện, phòng ngừa các hành vi lợi dụng công tác đo đạc, đăng ký đất đai để lừa đảo, trục lợi, gây hoang mang dư luận, làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự…
Hình thức tuyên truyền trên các cơ quan báo chí thành phố; tuyên truyền trên môi trường mạng và nền tảng số; tuyên truyền qua hệ thống thông tin cơ sở và trực tiếp: hệ thống truyền thanh; bảng tin, pa-nô, áp phích, khẩu hiệu; các nhóm cộng đồng (Zalo, mạng xã hội); đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội, tổ công nghệ số cộng đồng; lồng ghép trong hội nghị, sinh hoạt của tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, sinh hoạt cộng đồng dân cư, đến từng địa bàn, hộ gia đình…
II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI
1. Kết quả sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp và các nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
Sau một năm triển khai mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, việc sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền 3 cấp đã đạt những kết quả bước đầu quan trọng[1], đó là:
(1) Bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn hơn, đồng bộ hơn. (2) Việc hoàn thiện thể chế pháp luật, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cải cách thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đã được đẩy mạnh. (3) Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bước đầu ổn định. (4) Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nhiều đổi mới. (5) Công tác tuyên truyền, quán triệt, giáo dục chính trị, tư tưởng và vận động tạo đồng thuận xã hội được triển khai khá bài bản.
Tuy nhiên, có 07 vấn đề lớn cần tập trung khắc phục, đó là:
(1) Thể chế liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cơ chế vận hành mới ở một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ. Có nơi nhiệm vụ đã được giao nhưng hướng dẫn chưa kịp thời, có nơi thẩm quyền đã được phân cấp nhưng nguồn lực, nhân lực, công cụ quản lý chưa đi cùng.
(2) Thể chế pháp luật hiện hành còn chưa đồng bộ, thống nhất, nhiều quy định còn chưa rõ ràng, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; pháp luật về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài nguyên rừng, pháp luật về tài chính, ngân sách… Chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa một số cơ quan trong hệ thống chính trị chưa thật sự rõ ràng, đồng bộ; nhiều trường hợp thẩm quyền chưa tương xứng với nguồn lực được giao và điều kiện thực thi; một số mô hình tổ chức và vận hành sau sắp xếp còn đang trong quá trình hoàn thiện.
(3) Năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là cấp xã, chưa theo kịp yêu cầu mới. Khối lượng công việc chuyển xuống cơ sở rất lớn, trong khi cán bộ chuyên sâu về đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ thông tin, thanh tra, quản lý đô thị, các lĩnh vực phức tạp khác còn thiếu. Nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn và đối mặt với rủi ro công vụ. (theo đánh giá chỉ có 53% cán bộ cấp tỉnh, 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ).
(4) Định mức biên chế, tổ chức bộ máy và cơ chế phân bổ nguồn lực ở một số nơi còn mang tính bình quân, chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt rất lớn về quy mô dân số, diện tích, tính chất đô thị, điều kiện miền núi, biên giới, hải đảo, mức độ phát triển và khối lượng công việc thực tế.
(5) Hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số còn hạn chế; việc chuyển đổi số còn chậm và chưa thật sự đồng bộ. Dữ liệu chuyên ngành còn phân tán; một số hệ thống phần mềm chưa liên thông, chưa ổn định (trung tâm dữ liệu quốc gia mới kết nối 5/12 cơ sở dữ liệu chiến lược và 60/104 cơ sở dữ liệu chuyên ngành hay cả nước có 106 triệu thửa đất nhưng chỉ có 23,5 triệu thửa đạt tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”, dữ liệu đất đai chưa được chuẩn hóa thì quản lý dựa trên dữ liệu sẽ rất khó khăn); cán bộ cơ sở phải sử dụng nhiều hệ thống, nhiều phần mềm khác nhau, làm giảm hiệu quả vận hành, tăng áp lực xử lý công việc.
(6) Việc xử lý tài sản công dôi dư, bố trí trụ sở làm việc, chỉnh lý và số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ còn chậm ở nhiều nơi. Đây vừa là vấn đề trước mắt cần giải quyết, vừa là nguồn lực rất lớn cần được khai thác hiệu quả cho phát triển.
(7) Sau khi không còn cấp huyện, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát giữa cấp tỉnh với cấp cơ sở đặt ra nhiều vấn đề mới. Nếu không đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, dễ dẫn đến hai nguy cơ: hoặc cấp trên không nắm chắc cơ sở, hoặc cấp dưới lại phải xin ý kiến quá nhiều, làm giảm tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm.
Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt 10 nhiệm vụ trọng tâm sau:
(i) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế về pháp luật và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. (ii) Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. (iii) Hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. (iv) Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và kiểm soát quyền lực. (v) Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Đây là nhiệm vụ then chốt của then chốt. (vi) Nâng cao chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. (vii) Phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. (viii) Xử lý hiệu quả tài sản công, trụ sở và hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp, coi đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. (ix) Đổi mới mạnh mẽ công tác kiểm tra, giám sát và phương thức chỉ đạo, điều hành. (x) Đối với các lĩnh vực liên ngành còn giao thoa, cần khẩn trương rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ theo nguyên tắc: một việc phải có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính; một nguồn dữ liệu dùng chung; một quy trình phối hợp liên thông; đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm rõ ràng.
2. Tiếp tục tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới
Thời gian qua, việc thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới đã được các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các tổ chức cơ sở đảng được kiện toàn, củng cố phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện, xuyên suốt; phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới; chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được tăng cường, vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được khẳng định; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu từng bước được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển và quản trị trong tình hình mới. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai vẫn còn một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc.
Để tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, tại Kết luận số 58-KL/TW ngày 26/6/2026, Bộ Chính trị yêu cầu:
Chuyển trọng tâm từ củng cố sang nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, quản trị và tổ chức thực hiện ở cơ sở; tiếp tục tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Hoàn thiện mô hình tổ chức của Đảng đồng bộ, tương ứng với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở phù hợp với đặc thù địa bàn, lĩnh vực và yêu cầu phát triển mới. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo hướng thực chất, hiệu quả; đẩy mạnh phát triển tổ chức đảng trong khu vực ngoài nhà nước và ở những lĩnh vực, địa bàn trọng điểm; tăng cường vai trò lãnh đạo, kiểm tra, giám sát.
Đổi mới công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên, chủ động tạo nguồn, tiếp tục thực hiện mục tiêu kết nạp đảng viên mới theo hướng linh hoạt, phù hợp đặc thù từng địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, không hạ thấp tiêu chuẩn; lấy chất lượng về chính trị, phẩm chất, năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu. Chủ động tạo nguồn, phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú theo quy trình bài bản, gắn với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, qua đó hình thành lực lượng kế cận chất lượng, tiêu biểu trong giai đoạn mới. Quan tâm phát triển đảng viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, địa bàn khó khăn gắn với nâng cao dân trí, đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ và củng cố hệ thống chính trị cơ sở.
Tăng cường công tác quản lý đảng viên trên nền tảng số. Đổi mới toàn diện công tác quản lý đảng viên, điều hành, giao việc, theo dõi, kiểm tra, giám sát công việc theo hướng quản trị trên nền tảng số liên thông, xuyên suốt, không gián đoạn. 100% đảng viên được phân công nhiệm vụ cụ thể, gắn với nhiệm vụ chính trị, nhất là người đứng đầu theo nguyên tắc "sáu rõ, một xuyên suốt" (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền và một nhiệm vụ - một đầu mối xuyên suốt). Xây dựng và vận hành thống nhất Thẻ đảng viên điện tử, Hồ sơ đảng viên điện tử trong toàn Đảng. Từng bước xây dựng lộ trình thực hiện các thủ tục hành chính, nghiệp vụ công tác đảng viên trên môi trường số; không làm tăng thủ tục hành chính, chỉ yêu cầu bổ sung khi có vấn đề mới phát sinh.
Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; xây dựng "hình mẫu người đảng viên trong kỷ nguyên mới", thực hành "4 kiên định" giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng và lời thề với Đảng, gắn bó mật thiết với Nhân dân, hội tụ đầy đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, uy tín, năng lực, trình độ, đoàn kết, kỷ cương, có tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Bộ Chính trị giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu ban hành các văn bản cụ thể hóa Kết luận này; tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với hệ thống chính trị 3 cấp gắn với chuyển đổi số, vận hành hệ thống dữ liệu thống nhất, liên thông trong toàn Đảng, đơn giản hóa thủ tục nghiệp vụ công tác đảng và quản lý đảng viên trên môi trường số; xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên hằng năm và theo nhiệm kỳ; tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị.
3. Những nội dung quan trọng cần quán triệt trong tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Chiều 17/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) đã chủ trì cuộc làm việc với Thường trực Ban Chỉ đạo. Phát biểu kết luận cuộc làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu 7 nội dung cần quán triệt, như sau:
Thứ nhất, phải nắm thật chắc quan điểm chỉ đạo, yêu cầu và phương pháp tổng kết. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là một công việc có ý nghĩa đặc biệt hệ trọng. Tổng kết phải bám chắc sự thật lịch sử, tôn trọng lịch sử, xuất phát từ lịch sử; nhưng không dừng lại ở việc kể lại lịch sử, không phải là liệt kê sự kiện theo lối biên niên sử. Điều quan trọng hơn là từ lịch sử phải đúc kết được những vấn đề, những kết luận và những bài học lớn, những quy luật xuyên suốt; từ đó làm sáng rõ hơn con đường cách mạng Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc; và tương lai phát triển của dân tộc.
Tổng kết lần này phải tạo ra được giá trị mới, đóng góp mới, nhận thức mới so với các lần tổng kết trước. Nếu chỉ tập hợp lại những gì đã có, cộng các báo cáo cũ lại với nhau, diễn đạt lại theo hình thức mới thì không đạt yêu cầu. Phải trả lời được câu hỏi, sau tổng kết này, sự phát triển về nhận thức lý luận của Đảng ta qua 100 năm sâu sắc hơn ở điểm nào; con đường phát triển của đất nước sáng rõ hơn ở điểm nào; bài học kinh nghiệm nào được khái quát ở tầm cao hơn; vấn đề lý luận nào được bổ sung, phát triển sáng tạo; tầm nhìn và định hướng chiến lược nào cho 100 năm tới được xác lập có căn cứ, có sức thuyết phục.
Thứ hai, phải làm rõ mối quan hệ giữa tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam với tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là hai nội dung lớn, có mối quan hệ rất chặt chẽ nhưng không đồng nhất, cũng không thể tách rời. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là tổng kết toàn bộ chặng đường lịch sử Đảng ra đời, lãnh đạo cách mạng, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, lãnh đạo công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh là tổng kết một nội dung rất trọng tâm, gắn với quá trình nhận thức, bổ sung, phát triển đường lối xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, cần xác định rõ phương thức kết hợp hai nội dung này. Không làm rời rạc, song song một cách cơ học; cũng không hòa lẫn làm mờ trọng tâm cốt lõi của từng báo cáo. Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh phải được đặt trong dòng chảy 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam; đồng thời, tập trung đánh giá việc thực hiện mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đã được nêu trong Cương lĩnh. Phải làm rõ những nội dung Cương lĩnh đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, những nội dung cần tiếp tục bổ sung, phát triển và những vấn đề mới mà lý luận phải đi trước, vượt trước, dẫn đường; góp phần làm sâu sắc hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thứ ba, tổng kết phải nhấn mạnh được những thành tựu vĩ đại qua 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là thành tựu về đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tiến hành công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quốc phòng, an ninh; mở rộng đối ngoại, hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế... Phải làm rõ giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại, giá trị lý luận và giá trị thực tiễn của những thành tựu đó; làm rõ tầm vóc lịch sử của những thành tựu đã thay đổi vận mệnh dân tộc, thay đổi vị thế đất nước, củng cố niềm tin của Nhân dân.
Đồng thời, tổng kết phải thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, khuyết điểm, những vấn đề chưa thành công, những bài học, những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ. Đề cập đến hạn chế không phải là để làm nhẹ đi thành tựu. Vấn đề là phải có phương pháp khoa học, khách quan, biện chứng, lịch sử - cụ thể; nhìn nhận đúng bản chất, đúng nguyên nhân, đúng tầm vóc của từng vấn đề. Có như vậy, những bài học của quá khứ mới giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tương lai.
Thứ tư, phải làm rõ những vấn đề cốt lõi, xuyên suốt trong 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, như: Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua những bước ngoặt lịch sử; về lựa chọn và kiên định con đường phát triển; về xử lý quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể; về phát huy sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng; về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng nền tảng phát triển đất nước… Phải trả lời được vì sao Đảng ta có thể lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, trong những điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp.
Đồng thời, phải làm nổi bật các bài học kinh nghiệm mang tính quy luật, như: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; liên tục đổi mới sáng tạo trên nền tảng giữ vững nguyên tắc; dân là gốc; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; xử lý đúng đắn các mối quan hệ lớn… Các bài học kinh nghiệm phải được chắt lọc, khái quát ở tầm lý luận, tránh những nhận xét chung chung, quen thuộc nhưng chưa đủ sức định hướng.
Thứ năm, đặc biệt coi trọng xác định tầm nhìn và định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tới. Đây là nội dung rất khó. Tổng kết quá khứ đã khó, nhưng dự báo, định hướng tương lai còn khó hơn nhiều. Tương lai luôn chứa đựng những yếu tố bất định; thế giới biến đổi rất nhanh; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh… không ngừng tạo ra những thay đổi sâu sắc; điều chỉnh và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng phức tạp; an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen. Vì vậy, xác định tầm nhìn và định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tới không thể là mong muốn chủ quan, mà phải có cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cơ sở khoa học, phương pháp dự báo và tư duy chiến lược dài hạn.
Tầm nhìn 100 năm tới phải tiếp tục thể hiện được khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam. Phải trả lời được những câu hỏi lớn: Việt Nam muốn trở thành một quốc gia phát triển như thế nào trong thế kỷ tới; những nền tảng nào phải giữ vững; những động lực phát triển mới là gì; những đột phá nào phải vạch ra; những nguy cơ nào phải đối mặt; những giá trị nào phải được bảo vệ và phát huy. Tầm nhìn phải có chiều cao của khát vọng, chiều sâu của lý luận, bám sát thực tiễn đất nước và xu thế của thời đại, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.
Thứ sáu, bên cạnh nội dung chuyên môn, phải hết sức chú ý công tác tổ chức thực hiện. Công việc rất lớn, yêu cầu rất cao, thời gian đi rất nhanh, vì vậy nếu tổ chức công việc không tốt thì khó bảo đảm tiến độ và chất lượng. Các nhóm tổng kết phải triển khai ngay, không chờ đợi nhau. Từng nhóm phải chủ động xây dựng kế hoạch, xác định rõ sản phẩm, rõ thời hạn, rõ người chịu trách nhiệm, rõ cơ chế phối hợp, rõ điểm đến của từng giai đoạn. Cần thường xuyên rà soát tiến độ, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, điều chỉnh cách làm, bảo đảm các sản phẩm trung gian có chất lượng, để khi xây dựng báo cáo tổng hợp không bị động, không dồn việc vào cuối kỳ.
Thứ bảy, phải đặc biệt coi trọng vấn đề tư liệu, dữ liệu, nhân chứng lịch sử và các nguồn thông tin có giá trị. Tổng kết 100 năm không thể chỉ dựa vào các báo cáo hành chính. Phải huy động trí tuệ của toàn Đảng, của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ thực tiễn, các nhân chứng lịch sử, các đồng chí lão thành cách mạng, các thế hệ lãnh đạo, quản lý qua các thời kỳ. Đây là nguồn tri thức, kinh nghiệm và tư liệu rất quý. Có những vấn đề chỉ được làm sáng tỏ khi kết hợp tư liệu lưu trữ với hồi ức của nhân chứng, với nghiên cứu của nhà khoa học, với kinh nghiệm của cán bộ thực tiễn và với sự phân tích khách quan, đa chiều.
Cần phát huy, sử dụng tốt các kho tư liệu, dữ liệu lịch sử, các công trình nghiên cứu đã có, các tài liệu lưu trữ trong nước và quốc tế, các kết quả tổng kết chuyên đề, tổng kết ngành, lĩnh vực, địa phương. Đối với những tài liệu có điều kiện, cần nghiên cứu cơ chế khai thác, giải mật, sử dụng phù hợp, đúng quy định, phục vụ công tác tổng kết. Việc này phải được làm nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học, vừa bảo đảm yêu cầu bảo mật, vừa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tổng kết, làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử cần kết luận.
Có những vấn đề lịch sử đã rõ thì phải khẳng định dứt khoát. Có những vấn đề còn ý kiến khác nhau thì phải nghiên cứu, phân tích thấu đáo. Những vấn đề cần kết luận thì phải chuẩn bị căn cứ thật chắc để kết luận. Không né tránh những vấn đề khó; nhưng cũng không nóng vội, giản đơn, chủ quan trong kết luận. Kết luận lịch sử phải có căn cứ, có phương pháp, có trách nhiệm; kết luận để thống nhất nhận thức, củng cố niềm tin, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
4. Một số quy định, quy chế mới về công tác đảng
* Quy định về thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở: Quy định số 203-QĐ/TW ngày 19/6/2026 của Ban Bí thư về thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở. Quy định này quy định về nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng ủy cơ sở được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở. Áp dụng đối với đảng ủy cơ sở trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước mà cấp trên trực tiếp không phải là tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; đảng ủy cơ sở trực thuộc đảng ủy doanh nghiệp nhà nước; đảng ủy cơ sở trực thuộc đảng ủy xã, phường, đặc khu đang được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở (trừ đảng ủy cơ sở trong lực lượng vũ trang).
Thực hiện thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở bảo đảm đúng chủ trương, quy định của Đảng; chặt chẽ, thận trọng và đủ điều kiện. Việc thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở do đảng ủy cấp trên trực tiếp đề nghị; tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương quyết định và báo cáo kết quả với Ban Tổ chức Trung ương sau khi quyết định thí điểm giao quyền. Cấp ủy cấp trên trực tiếp cần tạo điều kiện để đảng ủy cơ sở được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở thực hiện hiệu quả, đúng quy định các quyền hạn được giao; bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.
Đảng bộ cơ sở khi có đủ các điều kiện sau đây thì đảng ủy được xem xét thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở: Có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Có nhiều đơn vị thành viên là tổ chức cơ sở trong cùng một cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước; hoạt động trên nhiều địa phương. Có số lượng từ 400 đảng viên trở lên. Là đảng bộ có 3 năm liền gần nhất hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (bảo đảm năng lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy được giao). Trường hợp đảng bộ cấp trên cơ sở, đảng bộ cơ sở mà đảng ủy đã được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, sau khi chia tách, hợp nhất, sáp nhập vẫn bảo đảm đủ điều kiện theo quy định thì tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương xem xét, quyết định thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở và báo cáo kết quả với Ban Tổ chức Trung ương.
Đảng ủy cơ sở được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng ủy cấp trên cơ sở tương ứng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và các quy định của Đảng. Đồng thời, ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương xem xét, quyết định giao cho đảng ủy cơ sở một số quyền cấp trên cơ sở.
* Quy chế phối hợp công tác giữa đảng ủy bộ, ngành Trung ương với cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục đại học công lập: Quyết định số 204-QĐ/TW ngày 26/6/2026, ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa đảng ủy bộ, ngành Trung ương với cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục đại học công lập.
Theo Quy chế, Đảng ủy bộ, ngành và cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định; đồng thời phối hợp chặt chẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo đảng ủy, chi bộ cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ chính trị, chiến lược phát triển, quy hoạch mạng lưới cơ sở đại học công lập, công tác đào tạo, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, nghiên cứu khoa học, công nghệ, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, công tác tổ chức, cán bộ trong cơ sở giáo dục và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, quản lý học viên, sinh viên, học sinh (nếu có) trên địa bàn, tham gia phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Việc phối hợp công tác phải bảo đảm tuân thủ Điều lệ Đảng, nghị quyết, quy định, quyết định, hướng dẫn của Trung ương, pháp luật của Nhà nước; giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của đảng ủy bộ, ngành, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy địa phương và phát huy cơ chế tự chủ của cơ sở giáo dục theo quy định.
Về nội dung phối hợp, Quy chế quy định Đảng ủy bộ, ngành chỉ đạo cơ sở giáo dục đặt trên địa bàn định kỳ hoặc khi cần thiết báo cáo với cấp ủy địa phương về kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị, chiến lược phát triển, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục, công tác đào tạo, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, nghiên cứu khoa học, công nghệ hằng năm của cơ sở giáo dục liên quan đến địa phương.
Đảng ủy bộ, ngành chủ trì, phối hợp với cấp ủy địa phương lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đảng trong cơ sở giáo dục tham gia đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, tư vấn chính sách, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, môi trường và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ sở giáo dục. Khi có sự việc đột xuất (thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, các vấn đề phức tạp phát sinh trong học sinh, sinh viên...) xảy ra ở cơ sở giáo dục, đảng ủy bộ, ngành chủ động phối hợp với cấp ủy địa phương lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời.
* Quy định mới về chức năng, bộ máy của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Quy định số 205-QĐ/TW ngày 26/6/2026 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Theo Quy định, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực do Bộ Chính trị thành lập, có chức năng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong phạm vi cả nước. Trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; các vụ án, vụ việc tiêu cực gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; các vụ án, vụ việc gây lãng phí nghiêm trọng tài chính công, tài sản công, dư luận xã hội quan tâm (gọi chung các loại vụ án, vụ việc này là vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm). Ban Chỉ đạo chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
5. Tiếp tục vun đắp tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước Việt Nam - Lào
Từ ngày 09 - 10/7/2026, tại tỉnh Nghệ An của Việt Nam và tỉnh Bolykhamxay của Lào đã diễn ra giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào lần thứ 3. Đoàn đại biểu Việt Nam do Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng đoàn; đoàn đại biểu Lào do Đại tướng Khamliang Outhakaysone, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào làm Trưởng đoàn.
Với nhiều hoạt động thiết thực, phong phú được tổ chức tại khu vực biên giới hai nước, chương trình tiếp tục khẳng định đây là một nội dung hợp tác đặc sắc, mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, thiết thực, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác quốc phòng, củng cố tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào và xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, ổn định và phát triển.
Ngày 09/7/2026, các hoạt động giao lưu diễn ra tại Lào với lễ đón đoàn Việt Nam tại khu vực Cột mốc 460; chào, tô son Cột mốc 460 và trồng cây hữu nghị tại khuôn viên cột mốc bên phía Lào. Hai bên dự Lễ khởi công xây dựng công trình Trạm phối hợp công tác, Đại đội Biên phòng 252 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bolykhamxay do Bộ Quốc phòng Việt Nam hỗ trợ kinh phí; thăm, tặng quà và học bổng cho học sinh một trường tiểu học tại huyện Xaychamphone, tỉnh Bolykhamxay; tham quan hoạt động khám, chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí và trao tặng bò giống cho các hộ gia đình khó khăn ở khu vực biên giới Lào. Chương trình trong ngày kết thúc bằng Lễ tiễn đoàn Việt Nam về nước tại Cửa khẩu Nam On của Lào.
Ngày 10/7, tại khu vực Cửa khẩu Thanh Thủy, tỉnh Nghệ An, ngay sau lễ đón đoàn đại biểu cấp cao Lào sang Việt Nam tham dự chương trình, hai Đại tướng cùng hai đoàn tiếp tục trồng cây hữu nghị tại khu vực khuôn viên Cột mốc 460; thăm, tặng quà Đồn Biên phòng Cửa khẩu Thanh Thủy; dự lễ sơ kết kết nghĩa giữa cụm dân cư hai bên biên giới và chứng kiến các hoạt động giao lưu văn hóa, thể dục, thể thao giữa thôn Thủy Phong và bản Sopteng.
Trong khuôn khổ chương trình, hai đoàn trao bò giống tặng nhân dân khu vực biên giới; dự Lễ khởi công công trình Trường mầm non Thanh Hà, xã Kim Bảng, Nghệ An do Bộ Quốc phòng xây tặng địa phương; dâng hương tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Liên và tiến hành hội đàm giữa đoàn đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng hai nước Việt Nam - Lào.
Sau hai lần tổ chức thành công vào các năm 2021 và 2024, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào đã trở thành điểm sáng trong quan hệ hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Đây là mô hình hợp tác vừa có ý nghĩa chính trị sâu sắc, vừa mang giá trị thực tiễn thiết thực, góp phần thúc đẩy hợp tác ngày càng thực chất giữa lực lượng bảo vệ biên giới, chính quyền địa phương và nhân dân khu vực biên giới hai nước, đồng thời tiếp tục lan tỏa sâu rộng tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào.
Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào lần thứ 3 tiếp tục khẳng định nét đặc sắc trong hợp tác giữa hai nước, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, ổn định và phát triển. Diễn ra vào dịp hai nước hướng tới kỷ niệm 49 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1977 - 18/7/2026), chương trình tiếp tục thể hiện quyết tâm của hai Đảng, hai Nhà nước, hai quân đội và nhân dân hai nước trong gìn giữ, vun đắp và phát triển mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào ngày càng bền chặt, đi vào chiều sâu và hiệu quả.
6. Một số nét chính về tình hình kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm 2026, dự báo 6 tháng cuối năm
Sáu tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, với sự đan xen giữa những nhân tố phục hồi và các nguy cơ bất ổn mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại, biến động của thị trường năng lượng và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) tiếp tục tác động sâu rộng đến kinh tế, thương mại và đời sống quốc tế. Kinh tế thế giới vẫn cho thấy khả năng chống chịu nhất định, song đà phục hồi thiếu đồng đều, nền tảng tăng trưởng chưa thực sự vững chắc.
Nổi bật là những diễn biến phức tạp tại Trung Đông, làm gia tăng nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng, vận tải quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu. Giá năng lượng và nhiều nguyên liệu đầu vào tăng cao gây sức ép lên chi phí sản xuất, đầu tư và tiêu dùng, đồng thời làm gia tăng nguy cơ lạm phát quay trở lại, thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), giá dầu Brent có thể đạt bình quân 94 USD/thùng trong năm 2026, tăng 36% so với năm 2025. Sự gián đoạn nguồn cung phân bón cũng làm gia tăng nguy cơ mất an ninh lương thực, nhất là tại các nền kinh tế đang phát triển.
Trong bối cảnh đó, tăng trưởng kinh tế toàn cầu tiếp tục phân hóa rõ rệt. Theo OECD, năm 2026, kinh tế Mỹ được dự báo tăng 2,0%, Khu vực đồng euro tăng 0,8%, Trung Quốc đạt 4,5% và Ấn Độ được dự báo tăng 6,3% trong tài khóa 2026 - 2027. Sự chênh lệch này cho thấy một số nền kinh tế mới nổi tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, trong khi nhiều nền kinh tế phát triển chịu sức ép từ nhu cầu yếu, chi phí năng lượng cao và tâm lý thận trọng trong tiêu dùng, đầu tư.
Đầu tư vào AI, chip bán dẫn, trung tâm dữ liệu và các lĩnh vực công nghệ mới tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, nhất là tại châu Á và Mỹ. Tuy nhiên, lợi ích từ làn sóng công nghệ mới phân bổ không đồng đều và nguy cơ hình thành bong bóng đầu tư AI cũng đặt ra những thách thức mới đối với ổn định tài chính toàn cầu.
Thương mại quốc tế tiếp tục chịu tác động của những xu hướng trái chiều. Nhu cầu đối với các sản phẩm liên quan đến AI, chất bán dẫn và công nghệ cao tạo thêm động lực cho thương mại, nhất là tại châu Á; song chính sách thuế quan, chủ nghĩa bảo hộ, các hàng rào kỹ thuật và quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng tiếp tục làm gia tăng chi phí và tính bất định. Cùng với đó, các tiêu chuẩn về carbon, môi trường và phát triển bền vững ngày càng trở thành những tiêu chuẩn quan trọng chi phối kinh tế và thương mại quốc tế, tạo thêm sức ép thích ứng đối với các nền kinh tế và doanh nghiệp có năng lực công nghệ còn hạn chế.
Dự báo 6 tháng cuối năm 2026, triển vọng kinh tế thế giới tiếp tục chịu nhiều sức ép và phụ thuộc lớn vào diễn biến xung đột địa chính trị, giá năng lượng, lạm phát, nợ công và hiệu quả lan tỏa của các động lực tăng trưởng mới. Theo các dự báo mới nhất, IMF dự báo kinh tế toàn cầu tăng 3,0% trong năm 2026; OECD dự báo 2,8%; trong khi WB và Liên hợp quốc đều dự báo 2,5%. OECD cảnh báo, trong kịch bản gián đoạn kéo dài, tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể chỉ đạt 2,1% trong năm 2026 và tiếp tục giảm xuống 1,8% trong năm 2027.
Bên cạnh những rủi ro, sự phát triển nhanh của AI và chu kỳ đầu tư công nghệ tiếp tục được kỳ vọng tạo thêm động lực cho tăng trưởng. Bank of America dự báo kinh tế thế giới có thể tăng 3,2% trong năm 2026 và 3,5% trong năm 2027, nhờ chu kỳ xuất khẩu công nghệ tại châu Á và làn sóng đầu tư mạnh vào AI tại Mỹ. Tuy nhiên, triển vọng phục hồi nhìn chung vẫn tiềm ẩn nhiều bất định; khả năng tăng trưởng sẽ phụ thuộc lớn vào việc kiểm soát các điểm nóng địa chính trị, ổn định thị trường năng lượng, kiềm chế lạm phát và hạn chế các rủi ro tài chính.
Nhìn tổng thể, trong 6 tháng cuối năm 2026, thế giới nhiều khả năng tiếp tục vận động trong trạng thái vừa hợp tác, vừa cạnh tranh; vừa duy trì khả năng phục hồi, vừa phải ứng phó với những cú sốc khó dự báo. Xu hướng đa dạng hóa thị trường, tái cơ cấu chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và ứng dụng AI sẽ tiếp tục được thúc đẩy; đồng thời, cạnh tranh chiến lược, bảo hộ thương mại, xung đột địa chính trị và các rủi ro tài chính tiếp tục là những nhân tố lớn chi phối triển vọng kinh tế và ổn định toàn cầu.
7. Một số kết quả Cuộc gặp không chính thức giữa các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Bộ trưởng Ngoại giao Myanmar
Ngày 12/7/2026, tại Bangkok, Thái Lan, diễn ra Cuộc gặp không chính thức giữa các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Bộ trưởng Ngoại giao Myanmar dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Maria Theresa P. Lazaro, nước Chủ tịch ASEAN 2026.
Đây là cuộc gặp trực tiếp đầu tiên có sự tham dự của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, đồng thời là tiếp xúc trực tiếp cấp cao nhất giữa ASEAN với chính quyền Myanmar kể từ năm 2021, thể hiện tinh thần đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN trong thúc đẩy đối thoại, hợp tác với Myanmar. Cuộc gặp được tổ chức trên cơ sở chỉ đạo của các nhà lãnh đạo ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 diễn ra tại Cebu, Philippines, về việc tiếp tục trao đổi phương cách để ASEAN duy trì hỗ trợ và hợp tác với Myanmar, bám sát các nguyên tắc của Đồng thuận 5 điểm.
Tại cuộc gặp, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN ghi nhận thông tin của Bộ trưởng Ngoại giao Myanmar Tin Maung Swe về những diễn tiến gần đây tại Myanmar, bao gồm kế hoạch 100 ngày và các biện pháp cụ thể để thúc đẩy hòa bình, hòa giải và ổn định, cũng như trong việc duy trì trao đổi, tiếp xúc và nỗ lực với các bên liên quan ở Myanmar. Trên tinh thần thẳng thắn và xây dựng, các Bộ trưởng đã chia sẻ đánh giá về tình hình và trao đổi một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và hỗ trợ Myanmar trong thời gian tới thông qua việc triển khai hiệu quả, thực chất Đồng thuận 5 điểm - là khuôn khổ định hướng chính của ASEAN trong hỗ trợ Myanmar.
Các Bộ trưởng khẳng định, ASEAN sẽ tiếp tục duy trì đối thoại với đại diện chính quyền Myanmar và hỗ trợ Myanmar tìm kiếm giải pháp lâu dài do Myanmar làm chủ và dẫn dắt, vì mục tiêu hòa bình, hòa giải dân tộc, ổn định, an ninh và sự phát triển, thịnh vượng của người dân Myanmar cũng như của khu vực.
Phát biểu tại Cuộc gặp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung khẳng định, Việt Nam nhất quán coi Myanmar là một thành viên của ASEAN và Đồng thuận 5 điểm là khuôn khổ quan trọng để ASEAN tiếp tục hỗ trợ Myanmar. Bộ trưởng ghi nhận những biện pháp chính quyền Myanmar triển khai thời gian qua nhằm ổn định chính trị, phục hồi kinh tế và nâng cao hiệu quả quản trị, tăng cường phòng, chống tội phạm xuyên biên giới, bao gồm ma túy và tội phạm mạng, kiểm soát các khu vực biên giới; mong muốn những nỗ lực vì hòa bình, hòa giải dân tộc, bảo đảm an ninh, an toàn và cuộc sống của người dân sẽ tiếp tục được thúc đẩy.
Bộ trưởng Lê Hoài Trung khẳng định, Việt Nam sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với Chủ tịch ASEAN 2026 và các nước thành viên hỗ trợ Myanmar phục hồi kinh tế, xử lý các vấn đề xã hội và phòng, chống tội phạm xuyên biên giới, thúc đẩy hợp tác song phương và hợp tác tiểu vùng, vì hòa bình, ổn định, phát triển bền vững của Myanmar và khu vực, đóng góp vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN.
Bên lề Cuộc gặp, Bộ trưởng Lê Hoài Trung có các cuộc gặp song phương với Bộ trưởng Ngoại giao Myanmar và Bộ trưởng Ngoại giao Philippines để trao đổi về các nội dung hợp tác cùng quan tâm.
8. Một số sự kiện thế giới đáng chú ý
- Kết thúc đàm phán FTA Việt Nam - EFTA, mở rộng kết nối kinh tế giữa Việt Nam và châu Âu: Ngày 02/7/2026, Việt Nam và các nước thành viên của Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) đã ra Tuyên bố chung về việc kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EFTA.
Về sự kiện trên, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định đây là nỗ lực và quyết tâm mạnh mẽ của cả hai bên để hướng tới ký kết Hiệp định sau 14 năm đàm phán. Việt Nam đánh giá cao những kết quả đàm phán đã đạt được với các nước thành viên của Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu.
Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ: "Việt Nam sẽ tiếp tục làm việc chặt chẽ với các quốc gia thành viên EFTA để sớm ký kết và triển khai hiệu quả các cam kết của Hiệp định, qua đó thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm".
- Việt Nam tái khẳng định lập trường nhất quán về giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế: Nhân dịp 10 năm Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 ra phán quyết trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ:
“Lập trường rõ ràng và nhất quán của Việt Nam là các tranh chấp trên biển phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam luôn ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp về giải thích và áp dụng Công ước theo các quy định của Công ước. Việt Nam tái khẳng định rằng Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là cơ sở pháp lý duy nhất, quy định toàn diện và triệt để về phạm vi quyền được hưởng vùng biển.
Với tư cách là quốc gia ven Biển Đông và là một thành viên tích cực của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam luôn thiện chí tuân thủ Công ước và yêu cầu tất cả các bên liên quan thực thi đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình được quy định trong Công ước, bao gồm trong việc xác định các yêu sách biển và thực thi quyền trên biển của mình, tôn trọng quyền các quốc gia khác được hưởng theo Công ước, cùng hợp tác, đóng góp tích cực, thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không và trật tự ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế”.
- Đoàn Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Venezuela: Chiều 09/7/2026, Đoàn Việt Nam gồm 124 cán bộ, chiến sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam đã rời bang La Guaira, kết thúc sau gần hai tuần thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại khu vực chịu thiệt hại nặng nề do động đất ở Venezuela.
Trong thời gian làm nhiệm vụ tại Playa Grande, đoàn đã phối hợp tìm kiếm, đưa nhiều thi thể nạn nhân ra khỏi các công trình đổ sập; xác định và bàn giao các vị trí nghi có người bị nạn cho lực lượng chức năng Venezuela; đồng thời tổ chức khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí, tặng quà và hỗ trợ người dân di chuyển tài sản. Đoàn đã trao tặng trang thiết bị y tế, thuốc men, lương thực, lều bạt và quyên góp 15.000 USD hỗ trợ Chính phủ và nhân dân Venezuela khắc phục hậu quả thiên tai.
Đại diện Bộ Ngoại giao Venezuela đánh giá cao sự hỗ trợ kịp thời, thiết thực và tình cảm sẻ chia của Việt Nam. Ghi nhận những đóng góp của đoàn, phía Venezuela đã trao Huy chương “Anh hùng Venezuela” hạng Nhất cho tập thể đoàn, hạng Nhì cho toàn bộ 124 thành viên và Huân chương “Công trạng phục vụ” cho đội chó nghiệp vụ.
III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT
Nghị định số 85/2026/NĐ-CP ngày 25/3/2026 của Chính phủ về bảo hiểm hưu trí bổ sung. Nghị định gồm 45 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2026 và thay thế Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:
Nghị định quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 127 Luật Bảo hiểm xã hội, gồm: tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, thiết lập, quản lý và đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; doanh nghiệp quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Nghị định này không điều chỉnh các nội dung sau: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; Hoạt động cung cấp sản phẩm bảo hiểm hưu trí của doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn; Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán của các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Về quy định tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, Nghị định quy định: Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung là người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.
Nghị định nhấn mạnh, việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.
Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.
Căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung và thực hiện đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.
Điều kiện để người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp phải được nêu cụ thể tại văn bản thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trường hợp người sử dụng lao động có điều kiện về thời gian làm việc tối thiểu đối với người lao động thì không quá 5 năm.
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện nêu trên, người lao động cũng được hưởng quyền lợi khi thuộc một trong các trường hợp sau: bị tử vong; đang mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS); có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc là người khuyết tật đặc biệt nặng; người lao động là công dân nước ngoài không tiếp tục cư trú tại Việt Nam hoặc giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn./.
[1] Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ngày 01/7/2026.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy