Thông tin, tư liệu phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 7 năm 2026

I. TIN THÀNH PHỐ

1. Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới

Ban Thường vụ Thành ủy vừa ban hành Chương trình hành động số 24-CTr/TU, ngày 01/06/2026 về việc thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.

Chương trình hành động nêu rõ mục tiêu kiên quyết, kiên trì, phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố đoàn kết, trong sạch, vững mạnh toàn diện; hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” liên tục của thành phố trong những năm tới; thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và xa hơn.

Cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo, Chương trình hành động nhấn mạnh yêu cầu thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả các nội dung của Nghị quyết số 04-NQ/TW; tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Việc tổ chức triển khai phải đảm bảo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”, phân công cụ thể, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành gắn với công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Đồng thời điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp cho phù hợp với tình hình thực tiễn và các vấn đề mới phát sinh.

Về định hướng, thành phố tập trung hướng tới xây dựng một hệ thống đồng bộ gồm: Thể chế liêm chính - nền công vụ liêm chính - đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức liêm chính. Nâng cao hiệu quả giáo dục liêm chính trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, doanh nhân và Nhân dân; đưa nội dung giáo dục về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt chi bộ. Nâng cao vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của chi bộ, tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện tốt mô hình “Thành phố thượng tôn và tuân thủ pháp luật” trong Đề án “Xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa tại thành phố Hải Phòng” giai đoạn 2026-2030.

Chương trình hành động cũng yêu cầu đổi mới tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử và xử lý vi phạm. Thực hiện xử lý nghiêm minh, công bằng, khách quan, đồng bộ, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính, tổ chức; trường hợp đến mức phải xử lý hình sự thì cho phép chủ động áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế trước, nhưng có thời hạn thực hiện cụ thể và là căn cứ quan trọng để xem xét biện pháp xử lý tiếp theo.

Chương trình hành động đề ra 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là: (1) Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và cán bộ đảng viên nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, thực hành văn hóa liêm chính trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (2) Hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, bảo đảm nghiêm minh, rõ trách nhiệm; (3) Kiểm soát quyền lực chặt chẽ, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (4) Phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, công bằng, khách quan, nghiêm minh, nhân văn, thuyết phục, hiệu quả, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; (5) Tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn xã hội; (6) Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền; huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (7) Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.

2. Nghị quyết của Ban Thường vụ Thành uỷ về giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 26/5/2026 về giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Nghị quyết đề ra quan điểm quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở. Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở phải xuất phát từ thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ xây dựng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của thành phố.

Thực hiện đúng các quy định về công tác cán bộ bảo đảm nguyên tắc công khai, khách quan, minh bạch; quyền lực đi đôi với trách nhiệm; nhiệm vụ gắn với nguồn lực, điều kiện để thực hiện; sử dụng gắn với chính sách, chế độ đãi ngộ; triển khai hiệu quả cơ chế sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những cán bộ, công chức không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín theo đúng chủ trương “có vào - có ra, có lên - có xuống".

Nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở là nhiệm vụ quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước ở cơ sở. Cấp uỷ, nhất là người đứng đầu chịu trách nhiệm chính đối với công tác cán bộ; gắn chặt công tác cán bộ với cải cách hành chính, chuyển đổi số, kỷ luật - kỷ cương công vụ và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Nghị quyết đề ra 8 mục tiêu cụ thể đến năm 2030 gồm: (1) Hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định; (2) Hoàn thành bố trí 100% bí thư cấp uỷ, chủ tịch Uỷ ban nhân dân, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp xã không là người địa phương; (3) Phấn đấu tỷ lệ cấp uỷ viên nữ từ 20% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ cấp uỷ cấp xã; tỷ lệ cán bộ trẻ (dưới 42 tuổi) từ 15% trở lên (tính cho cả nhiệm kỳ); (4) Phấn đấu 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã đạt chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý Nhà nước theo vị trí việc làm, khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ; (5) 100% cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ theo ngành, lĩnh vực và bồi dưỡng các kỹ năng bổ trợ thực hiện nhiệm vụ công vụ; (6) 50% trở lên số xã, phường, đặc khu có cán bộ luân chuyển từ thành phố về địa phương để đảm nhiệm một trong các chức danh: Bí thư, phó bí thư đảng uỷ; chủ tịch Uỷ ban nhân dân, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân; (7) Phấn đấu cán bộ có trình độ khoa học công nghệ tham gia cấp uỷ đạt tỷ lệ từ 5% trở lên và có ít nhất 01 cán bộ có trình độ khoa học công nghệ trong các chức danh: Bí thư, phó bí thư đảng uỷ; chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân; chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; (8) Phấn đấu mỗi xã, phường, đặc khu có ít nhất 01 cán bộ trẻ giữ chức vụ bí thư, phó bí thư đảng uỷ; chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân; chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân.

Nghị quyết xác định 06 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, cụ thể: (1) Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; (2) Tiếp tục kiện toàn, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ gắn với thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở; (3) Đổi mới đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; (4) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ; siết chặt kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ ở cơ sở; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở; (5) Đổi mới lề lối làm việc; xây dựng môi trường văn hoá công sở tiên tiến, chuyên nghiệp phục vụ Nhân dân; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý cán bộ và thực thi công vụ; đầu tư cơ sở vật chất, trụ sở làm việc; (6) Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ.

3. Hải Phòng tăng cường, đổi mới công tác thông tin, truyền thông đối ngoại phục vụ phát triển thành phố

Ngày 19/6/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng ban hành Chỉ thị số 13-CT/TU về tăng cường, đổi mới công tác thông tin, truyền thông đối ngoại đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố Hải Phòng đến năm 2030 và các năm tiếp theo. Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng, định hướng toàn diện công tác thông tin, truyền thông đối ngoại trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế của thành phố, thu hút nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Chỉ thị đánh giá, thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai công tác thông tin, truyền thông đối ngoại, đạt nhiều kết quả tích cực. Hoạt động tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, tiềm năng, lợi thế, môi trường đầu tư, kinh doanh cùng các giá trị văn hóa, con người Hải Phòng được tăng cường, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của thành phố, mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Chỉ thị cũng chỉ rõ một số hạn chế như tính chủ động, hiệu quả và sức lan tỏa của công tác thông tin, truyền thông đối ngoại chưa cao; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có thời điểm chưa chặt chẽ; việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số còn chậm. Nguyên nhân chủ yếu là nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị về vị trí, vai trò của công tác này chưa đầy đủ; công tác lãnh đạo, chỉ đạo có lúc chưa quyết liệt; cơ chế phối hợp, nguồn lực và đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Chỉ thị xác định mục tiêu đến năm 2030 xây dựng công tác thông tin, truyền thông đối ngoại của thành phố theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, đồng bộ, hiệu quả; góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín và sức hấp dẫn của Hải Phòng; thu hút các nguồn lực phục vụ mục tiêu xây dựng thành phố cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống, trở thành trung tâm kinh tế biển, logistics và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước, có vị thế ngày càng cao trong khu vực và quốc tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu tập trung triển khai đồng bộ 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.

Trước hết, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu đối với công tác thông tin, truyền thông đối ngoại. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên; đưa kết quả thực hiện nhiệm vụ vào tiêu chí đánh giá, xếp loại hằng năm của tập thể và cá nhân; khắc phục tình trạng coi đây là nhiệm vụ riêng của cơ quan tuyên giáo, báo chí hoặc cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức thông tin, truyền thông đối ngoại theo hướng chủ động, đồng bộ, thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh quảng bá hình ảnh Hải Phòng năng động, hiện đại, văn minh, giàu bản sắc văn hóa; giới thiệu tiềm năng, lợi thế, môi trường đầu tư, kinh doanh và những thành tựu phát triển của thành phố. Các cơ quan, đơn vị cần đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tăng cường các sản phẩm thông tin bằng tiếng nước ngoài, sản phẩm đa phương tiện, đa nền tảng; gắn công tác thông tin đối ngoại với xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, ngoại giao kinh tế và mở rộng hợp tác quốc tế. 

Thứ ba, đẩy mạnh đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác thông tin, truyền thông đối ngoại; từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng thông tin dùng chung; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong sản xuất, quản lý và phân phối sản phẩm truyền thông. Đồng thời, chủ động nắm bắt tình hình thông tin, dư luận xã hội, nhất là trên không gian mạng; nâng cao năng lực dự báo, kịp thời xử lý các vấn đề thông tin phức tạp, nhạy cảm, tăng cường đấu tranh phản bác các thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bảo vệ hình ảnh, uy tín của thành phố. UBND thành phố được giao chỉ đạo đẩy mạnh số hóa tư liệu, dữ liệu, xây dựng cơ chế cung cấp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị. 

Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong công tác thông tin, truyền thông đối ngoại. Đảng ủy UBND thành phố lãnh đạo UBND thành phố cụ thể hóa Chỉ thị bằng các chương trình, kế hoạch, đề án phù hợp; Chủ tịch UBND thành phố và người đứng đầu các sở, ngành, địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện trong phạm vi quản lý. Các cơ quan báo chí tiếp tục đổi mới hoạt động theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao chất lượng các sản phẩm truyền thông đối ngoại và chủ động đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, xuyên tạc.

Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác tham mưu, phối hợp, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện. Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy được giao chủ trì tham mưu triển khai Chỉ thị; phối hợp xây dựng kế hoạch tổng thể về công tác thông tin, truyền thông đối ngoại; tham mưu thành lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại Thành ủy; xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng truyền thông quốc tế và năng lực số, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nhằm bảo đảm Chỉ thị được triển khai đồng bộ, hiệu quả.

4. Kết luận của Ban Thường vụ Thành ủy về tiếp tục thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng

Ngày 15/6/2026, Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Kết luận số 293-KL/TU về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 01/8/2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về một số giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng bộ thành phố đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. 

Thời gian qua, việc thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 01/8/2022 đạt nhiều kết quả mang tính đột phá, nhất là trong sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính; nghiên cứu triển khai Đề án xây dựng một số mô hình chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2025 - 2030 và những năm tiếp theo. Kết quả công tác tư tưởng trong thời gian qua đã góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố. Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, tăng cường.

 Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, công tác tư tưởng còn có một số hạn chế như năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa cao; Công tác quản lý, định hướng thông tin trên mạng xã hội có lúc, có việc còn bị động, hiệu quả chưa cao; Việc báo cáo kết quả nắm bắt, xử lý dư luận xã hội có nơi, có lúc còn chậm, có biểu hiện hành chính hóa; Vẫn còn cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước tới mức bị xử lý kỷ luật, trách nhiệm hình sự. Nguyên nhân chủ quan được xác định là một số cấp ủy chưa kịp thời, thiếu quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.

Kết luận số 293-KL/TU đề ra 05 quan điểm gồm: (1) Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng. Đồng thời chủ động đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, phương tiện thực hiện công tác tư tưởng; (2) Đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng; có quy chế, rõ trách nhiệm, rõ quy trình và nguồn lực bảo đảm; có kiểm tra, giám sát chặt chẽ; có trách nhiệm giải trình cụ thể của từng chủ thể; (3) Công tác tư tưởng phải đi trước một bước, đồng hành xuyên suốt trong quá trình hoạch định và thực thi chủ trương, chính sách; (4) Không gian số là địa bàn, là trận địa quan trọng của công tác tư tưởng, cần có sự hiện diện, dẫn dắt, tổ chức và kiểm soát. Tạo lập hệ sinh thái công tác tư tưởng trên cả không gian mạng và không gian thực. Chú trọng ứng dụng công nghệ, sử dụng dữ liệu, các thống kê có thể đo lường; đồng thời tăng cường tiếp xúc, đối thoại, cung cấp, định hướng giá trị, niềm tin, động lực hành động cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân; (5) Kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", "xây" là cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" là quan trọng, thường xuyên, cấp bách; chuyển mạnh từ phản ứng bị động sang chủ động theo phương châm "phát hiện sớm - giải thích sớm - định hướng sớm - xử lý sớm".

Phương hướng được xác định là đổi mới toàn diện và đồng bộ công tác tư tưởng; nâng cao tính chủ động, kịp thời, nhạy bén, thuyết phục, bám sát thực tiễn; đa dạng hóa hình thức công tác tư tưởng, đẩy mạnh chuyển đổi số. Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố nâng cao niềm tin của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố đi đầu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Kết luận số 293-KL/TU ngày 15/6/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tiêu biểu như: 100% Đảng ủy trực thuộc Thành uỷ có hoạt động, tham gia tổng kết 100 năm lãnh đạo của Đảng, 40 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung, phát triển) năm 2011; 100% cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trên địa bàn thành phố ban hành kế hoạch, đưa nội dung công tác tư tưởng vào chương trình công tác của cấp ủy, tổ chức đảng, thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ hằng năm; 100% chủ trương, nghị quyết lớn của Trung ương được cụ thể hóa thành kế hoạch, chương trình hành động đúng thời hạn, có phân công rõ trách nhiệm nguồn lực và lộ trình thực hiện; Tỷ lệ thông tin tích cực, định hướng chủ đạo trên các nền tảng mạng xã hội do thành phố quản lý đạt trên 80%, thực hiện phát hiện các vấn đề tư tưởng trong 24h đạt trên 90%; mỗi xã, phường, đặc khu có ít nhất 01 kênh thông tin chính thống trên nền tảng số…

Ban Thường vụ Thành uỷ đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp như tổ chức nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng gắn với Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới và các quy định của Đảng có liên quan đến công tác chính trị, tư tưởng. Chú trọng đến tất cả các khâu sau nghiên cứu, quán triệt. Đồng thời đề ra các nhiệm vụ cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, giáo dục lý luận, công tác tuyên truyền, cổ động, công tác nắm bắt dư luận xã hội; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Bên cạnh đó triển khai các giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có năng lực số…

Ban Thường vụ Thành uỷ yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần nâng cao nhận thức, quyết tâm chính trị, hành động quyết liệt, đồng bộ, sáng tạo; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, bảo đảm công tác tư tưởng thực sự đi trước, mở đường, góp phần xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

5. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ

Ngày 16/6/2026, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Công văn số 438-CV/TU về việc tiếp tục thực hiện Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. 

Ban Thường vụ Thành uỷ yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị trực thuộc Thành ủy tiếp tục quán triệt Quy định số 114-QĐ/TW đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý; đồng thời, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung Quy định số 114-QĐ/TW. Trong đó, Ban Thường vụ Thành uỷ lưu ý việc chấp hành nghiêm nguyên tắc, quy định về công tác cán bộ; nắm tình hình, dư luận của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về công tác cán bộ; không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh có liên quan theo tinh thần khoản 5, Điều 6 Quy định số 114-QĐ/TW.

Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền các văn bản, quy định, hướng dẫn về công tác cán bộ bảo đảm đúng chủ trương, nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, sát với thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị; xác định rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân của từng khâu trong công tác cán bộ, bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch.

Thành viên cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm quyền hạn, trách nhiệm trong công tác cán bộ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện, việc làm trái với các quy định của Đảng, Nhà nước; chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, sai phạm trong công tác cán bộ thuộc thẩm quyền được giao phụ trách. Tự giác báo cáo với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, quản lý khi xem xét nhân sự là người có quan hệ gia đình.

Người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị chỉ đạo chấp hành nghiêm nguyên tắc, quy định, quy trình về công tác cán bộ; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch. Gương mẫu trong xem xét, bố trí người có quan hệ gia đình, thân quen vào vị trí người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực thuộc hoặc giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý khác; chịu trách nhiệm về đề xuất, tham mưu, thẩm định các nội dung về công tác cán bộ theo chức trách, nhiệm vụ được giao bảo đảm đúng tinh thần Quy định số 114-QĐ/TW.

Nhân sự phải báo cáo kịp thời, đầy đủ, chính xác, rõ ràng hồ sơ lý lịch đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và kê khai trung thực tài sản, thu nhập theo quy định. Tự giác không ứng cử, không nhận đề cử, quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng, chế độ, chính sách nếu bản thân thấy không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, uy tín, năng lực, sức khoẻ và thuộc trường hợp không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhận các chức danh có liên quan theo quy định.

Tập thể, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên vi phạm sẽ bị xem xét, xử lý trách nhiệm theo quy định. Bảo vệ và khen thưởng kịp thời những cá nhân phát hiện, phản ánh, cung cấp thông tin, tố cáo đúng các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ; đồng thời, xử lý nghiêm những người tố cáo sai sự thật làm ảnh hưởng uy tín người khác.

Văn bản này thay thế Công văn số 1145-CV/TU ngày 14/12/2023 của Ban Thường vụ Thành ủy về việc quán triệt, triển khai thực hiện Quy định số 114-QĐ/TW của Bộ chính trị.

 

II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI

1. Nhiệm vụ xây dựng Đảng trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo, định hướng về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tổ chức xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trong đó yêu cầu một số nội dung quan trọng sau:

Một là, thống nhất nhận thức xây dựng Đảng, tổ chức, cán bộ là năng lực gốc của quản trị quốc gia. Trong giai đoạn phát triển mới, công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ không chỉ là nhiệm vụ nội bộ của Đảng, mà là năng lực gốc của quản trị quốc gia; là điều kiện quyết định để biến đường lối thành hiện thực, biến nghị quyết thành hành động, biến nguồn lực thành phát triển, biến niềm tin của Nhân dân thành sức mạnh. Xây dựng Đảng trong giai đoạn mới không chỉ là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, mà còn phải xây dựng một Đảng đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín, năng lực và phương thức lãnh đạo phù hợp để dẫn dắt đất nước trong kỷ nguyên mới. Phải thấy rõ nguy cơ hiện nay không chỉ là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, mà còn là trì trệ về tư duy, tụt hậu về năng lực quản trị, yếu kém trong tổ chức thực hiện, hành chính hóa trong lãnh đạo, quan liêu, xa dân, làm giảm niềm tin của Nhân dân.

Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo là làm cho sự lãnh đạo của Đảng đúng hơn, trúng hơn, sâu sát hơn, hiệu quả hơn; bảo đảm Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, định hướng chiến lược, bằng tổ chức cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát, bằng nêu gương, bằng thuyết phục và bằng kết quả thực tiễn. Trên tinh thần đó, công tác tham mưu phải chuyển mạnh từ phản ứng, xử lý vụ việc phát sinh sang chủ động dự báo, đón đầu xu hướng, chuẩn bị từ sớm, từ xa những vấn đề lớn về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ. Phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy lãnh đạo kiến tạo phát triển; từ coi trọng quy trình sang coi trọng kết quả; từ đánh giá bằng báo cáo sang đánh giá bằng sản phẩm; từ kiểm tra hình thức sang kiểm soát bằng trách nhiệm, dữ liệu và hiệu quả thực thi. Nghị quyết phải đi vào cuộc sống bằng chương trình hành động cụ thể; chương trình hành động phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, rõ thời hạn, rõ sản phẩm.

Ba là, tinh gọn bộ máy mới là điều kiện; vận hành hiệu quả mới là mục tiêu. Sắp xếp tổ chức bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm biên chế, mà sâu xa hơn là thiết kế lại kiến trúc vận hành của hệ thống chính trị để bộ máy thông suốt hơn, rõ chức năng hơn, rõ thẩm quyền hơn, rõ trách nhiệm hơn, gần dân hơn và phục vụ tốt hơn. Cơ sở là nơi kiểm nghiệm rõ nhất chất lượng lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước và niềm tin của Nhân dân. Cấp xã, phường, đặc khu không chỉ là cấp hành chính ở cơ sở, mà là cấp trực tiếp quản trị, thực thi, phục vụ Nhân dân, xử lý những vấn đề phát sinh từ đời sống. Vì vậy, phải xây dựng cấp cơ sở đủ mạnh, đủ năng lực, đủ điều kiện, đủ thẩm quyền và đủ cán bộ để thực hiện nhiệm vụ. Bộ máy sau sắp xếp phải được đánh giá bằng thước đo thực tế.

Bốn là, đổi mới căn bản công tác cán bộ, coi đánh giá cán bộ là khâu đột phá. Trong đó nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của then chốt. Trong giai đoạn mới, cán bộ không chỉ cần bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống gương mẫu, mà còn phải có tư duy chiến lược, năng lực quản trị hiện đại, năng lực chuyển đổi số, năng lực tổ chức thực hiện, năng lực xử lý vấn đề khó, năng lực đối thoại với Nhân dân và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phải đổi mới công tác cán bộ từ “đúng quy trình” sang “đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng sở trường, đúng sản phẩm”.

Đánh giá cán bộ phải là khâu đột phá. Đánh giá đúng thì bố trí đúng, sử dụng đúng, đào tạo đúng, bảo vệ đúng, sàng lọc đúng. Cần chuyển mạnh sang đánh giá cán bộ bằng phẩm chất, năng lực, uy tín, sản phẩm cụ thể, kết quả thực hiện nhiệm vụ, dữ liệu công việc và sự tín nhiệm của Nhân dân. Đặc biệt, phải đánh giá được năng lực tổ chức thực hiện và tinh thần trách nhiệm. Không thể để người làm tốt và người làm kém đều được đánh giá gần như nhau; không thể để cán bộ trì trệ, né tránh, sợ trách nhiệm vẫn an toàn trong bộ máy; không thể để cán bộ dám làm, làm được việc, có sản phẩm, có uy tín lại không được bảo vệ, khuyến khích, sử dụng đúng. Phải thực hiện thực chất chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”. Kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ yếu kém, uy tín thấp, né tránh, trì trệ, không đáp ứng yêu cầu. Đồng thời, phải phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trưởng thành từ thực tiễn cơ sở.

Năm là, đặc biệt quan tâm đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và cán bộ cơ sở. Cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn, bản lĩnh, tư duy hệ thống, năng lực hoạch định và xử lý những vấn đề lớn, mới, khó, phức tạp. Cán bộ cơ sở phải gần dân, sát dân, hiểu dân, trọng dân, có kỹ năng tiếp dân, đối thoại, xử lý hồ sơ, giải quyết mâu thuẫn, vận hành dữ liệu và phục vụ Nhân dân, đáp ứng yêu cầu vận hành của tổ chức bộ máy mới. Cần có cơ chế mạnh mẽ hơn để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực chiến lược, bảo đảm lựa chọn, sử dụng đúng người có đức, có tài, có bản lĩnh, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, quốc gia, dân tộc và Nhân dân.

Sáu là, bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới phải được tiến hành chủ động, chặt chẽ, thận trọng, khách quan, gắn với quản lý cán bộ, đảng viên, bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước, phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất cảnh giác trên không gian mạng, nhưng không định kiến, không làm ảnh hưởng đến cán bộ tốt, cán bộ có năng lực, cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chung.

Bảy là, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên. Tổ chức cơ sở đảng phải thật sự là hạt nhân chính trị ở cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp; là nơi lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đoàn kết nội bộ, quản lý cán bộ, đảng viên, nắm bắt tình hình Nhân dân và xử lý vấn đề từ sớm, từ xa. Phải đổi mới thực chất sinh hoạt chi bộ. Sinh hoạt chi bộ phải là nơi bàn việc thật, giải quyết việc thật, kiểm điểm trách nhiệm thật; nơi bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai, khơi dậy tinh thần hành động của cán bộ, đảng viên. Phải khắc phục tình trạng sinh hoạt hình thức, nể nang, ngại va chạm, thiếu tính chiến đấu.

Phát triển đảng viên phải chú trọng chất lượng, không chạy theo số lượng. Cần quan tâm phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, kinh tế tư nhân, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, học sinh, sinh viên, công nhân, người lao động, trí thức và các lực lượng mới trong nền kinh tế số. Đồng thời, phải quản lý chặt chẽ đảng viên, rà soát, sàng lọc, kịp thời đưa những người không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Tám là, kiểm soát quyền lực, siết kỷ luật, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và chống trì trệ. Kiểm soát quyền lực phải được thực hiện trong toàn bộ quá trình: xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Phải kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ địa phương, thân quen, khép kín, tư duy nhiệm kỳ. Mọi quy định của Đảng phải được thực hiện nghiêm túc, nhất quán, gắn với kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm. Công tác kiểm tra, giám sát phải chuyển mạnh từ bị động sang chủ động; từ xử lý sau vi phạm sang phòng ngừa, cảnh báo sớm; từ kiểm tra vụ việc đơn lẻ sang kiểm soát rủi ro trong toàn hệ thống. Phải phát hiện sớm vi phạm từ cơ sở, không để biểu hiện nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải tiếp tục kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Nhưng cùng với chống tham nhũng, tiêu cực, phải chống cả trì trệ, né tránh, đùn đẩy, vô cảm trước yêu cầu chính đáng của Nhân dân.

Chín là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Đây không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin, mà là đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ. Phải chuyển từ số hóa hồ sơ sang tạo lập dữ liệu sống phục vụ tham mưu chiến lược, chỉ đạo điều hành, kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ. Cần xây dựng dữ liệu cán bộ, đảng viên, tổ chức bộ máy thống nhất, đồng bộ, cập nhật, liên thông, an toàn, bảo mật. Dữ liệu phải phục vụ đánh giá cán bộ, quản lý biên chế, theo dõi thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng ngừa vi phạm. Chuyển đổi số trong Đảng phải gắn với chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; phải phục vụ trực tiếp cho nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng phục vụ Nhân dân.

2. Những chỉ đạo, định hướng quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, Nghị quyết 06-NQ/TW tập trung cụ thể hóa những quan điểm của đường lối đối ngoại Đại hội XIV với 5 luận điểm lớn mang tính định hình tư tưởng:

Thứ nhất, lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển lớn về tư duy lãnh đạo của Đảng, theo đó, đối ngoại trở thành một phương thức quan trọng, một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải ở vị trí tuyến đầu và trung tâm, góp phần nhận diện và hóa giải nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.

Thứ hai, trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế.

Thứ ba, đối ngoại phải dựa trên tinh thần "tự chủ chiến lược" và "tự cường". Tự chủ chiến lược thể hiện năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi và chủ động ứng phó linh hoạt; tự cường là phát huy nội lực, tự tin dân tộc để làm cho quốc gia mạnh lên.

Thứ tư, đối ngoại vươn lên đảm nhận một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Tham gia sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.

Thứ năm, đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trên nền tảng phối hợp, bổ sung cho nhau của 3 trụ cột: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giữa ngoại giao Nghị viện với ngoại giao Nhà nước, với đối ngoại nhân dân; giữa các ban, bộ, ngành Trung ương; với sự tham gia sâu rộng của các địa phương, doanh nghiệp và người dân; sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các công cụ chính trị, kinh tế, công nghệ, văn hóa,... để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; phát huy cao nhất, tối ưu nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Để ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn mới chuyển từ trạng thái ngoại giao bảo vệ không gian phát triển sang ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia; từ hội nhập thị trường sang kiến tạo thị trường; từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi và từ lớn mạnh riêng lẻ sang cùng ASEAN lớn mạnh, để không chỉ đứng vững giữa cạnh tranh chiến lược sang vươn lên nghệ thuật ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến” bằng công nghệ, thị trường, tiêu chuẩn, niềm tin và vị thế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh thêm 5 định hướng lớn, đó là:

Thứ nhất, phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại ngăn ngừa các nguy cơ khủng hoảng từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát; kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước.

Trước hết là củng cố vững chắc "vành đai an ninh - phát triển". Ưu tiên hàng đầu cho giữ gìn và phát triển quan hệ đối ngoại với các nước láng giềng; tăng cường tin cậy chính trị, kết nối chiến lược về hạ tầng, năng lượng, logistics, văn hóa, khoa học kỹ thuật... để đan xen lợi ích lâu dài; phối hợp chặt chẽ để xử lý hài hòa các vấn đề biên giới, an ninh nguồn nước, an ninh không gian, các thách thức phi truyền thống; kiểm soát tốt bất đồng, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. Củng cố đoàn kết, thống nhất, nâng cao vai trò trung tâm của ASEAN cũng như chủ động đề xuất sáng kiến thúc đẩy hợp tác ASEAN.

Với các nước lớn, chủ động, tích cực định hình, giữ gìn, phát triển quan hệ cân bằng, hài hòa, cùng có lợi, không để rơi vào thế đối đầu hoặc lệ thuộc trong quan hệ. Gia tăng lòng tin chiến lược, triển khai hiệu quả khuôn khổ quan hệ hiện có, ưu tiên các lĩnh vực, phương thức hợp tác phù hợp với ta, trong đó có kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh. Với các đối tác khác, tạo chuyển biến thực chất, khai thác tối đa dư địa từ các khuôn khổ hợp tác và Hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện có.

Trong bối cảnh có nhiều biến động, bất định như hiện nay, cần nâng cao năng lực quản trị chiến lược. Nhất là nâng cao chất lượng dự báo, tham mưu liên ngành, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đồng thời mở rộng chiều sâu hợp tác công nghiệp quốc phòng - công nghiệp an ninh; tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin, an ninh mạng, diễn tập cứu hộ - cứu nạn, gìn giữ hòa bình...

Thứ hai, đối ngoại là động lực mở ra không gian và cơ hội phát triển mới, gắn kết chặt chẽ với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đối ngoại phải có tầm nhìn chiến lược, xuyên suốt và nhất quán, giải quyết bài toán lớn đang đặt ra đối với đất nước để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược, trở thành nước phát triển, thu nhập cao và người dân phải được thụ hưởng; lấy sự hạnh phúc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân là nền tảng.

Đối ngoại chuyển trọng tâm từ "thu hút" sang “chọn lọc” và nâng chất các nguồn lực cho đột phá chiến lược. Tập trung đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn cung theo hướng nâng cao hàm lượng giá trị hàng hóa Việt Nam; chọn lọc nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), ưu tiên dự án công nghệ cao, liên kết sâu với trong nước, chuyển giao công nghệ; khơi thông các nguồn tài chính mới: ODA xanh, tín dụng khí hậu, vốn ưu đãi hạ tầng chiến lược,...

Quan hệ chính trị tốt đẹp cần được chuyển hóa thành các dự án, chương trình hợp tác thực chất, đón đầu xu thế mới. Ưu tiên triển khai đầy đủ, hiệu quả các cam kết, thoả thuận quốc tế trở thành động lực phát triển. Đồng thời đẩy mạnh ngoại giao công nghệ, tạo dựng các khuôn khổ hợp tác công nghệ, nhất là về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, lượng tử, khoáng sản chiến lược..., kết nối với các trung tâm đổi mới sáng tạo xuất sắc của thế giới, khu vực. Chủ động đàm phán, tham gia định hình luật chơi mới về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), thương mại số, tiêu chuẩn xanh và kết nối doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài với trong nước; hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, vươn ra thị trường bên ngoài.

Thứ ba, thể hiện trách nhiệm toàn cầu, tham gia đóng góp vào các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Việt Nam cần phát huy tiếng nói tích cực, cung cấp ý tưởng, góp phần khôi phục lòng tin và tính hiệu quả của chủ nghĩa đa phương. Chúng ta cần tích cực đóng góp vào bảo vệ trật tự thế giới dựa trên luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; tham gia cải cách hệ thống quản trị chính trị, kinh tế toàn cầu theo hướng bình đẳng, công bằng hơn cũng như đề xuất các khuôn khổ, quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế trong những lĩnh vực mới.

Với thế và lực mới, ta có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt và tham gia định hình các cơ chế đa phương phù hợp với lợi ích, khả năng và điều kiện cụ thể của ta. Việt Nam cần tích cực tham gia ứng phó với các thách thức toàn cầu, nhất là những vấn đề sát sườn, thiết thân như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, an ninh lương thực, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, cứu hộ cứu nạn, viện trợ nhân đạo,... Với vị trí đang đảm nhận trong các thể chế quốc tế, ta có thể tận dụng để lồng ghép ưu tiên của Việt Nam và ASEAN vào chương trình nghị sự.

Thứ tư, nâng tầm vị thế quốc gia tương xứng với tầm vóc lịch sử, bản sắc văn hóa, tiềm lực kinh tế và vai trò chính trị ngày càng gia tăng của đất nước, đóng góp vào nền văn minh nhân loại.

Là đất nước có nền văn hóa ngàn năm văn hiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới. Đối ngoại cần tiếp tục phát huy đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị; năng lực xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý, có tình; đề cao thượng tôn luật pháp quốc tế, biến những "sức mạnh mềm" thành sự đồng tình, ủng hộ, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần bồi đắp, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.

Khơi thông nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, gắn kết mạng lưới trí thức, học giả, doanh nhân, sinh viên với sự nghiệp phát triển đất nước. Đổi mới, hiện đại hóa phương thức thông tin đối ngoại, lan tỏa hình ảnh một Việt Nam tự cường, đổi mới và trách nhiệm. Biến ngoại giao văn hóa, ngoại giao di sản thành nguồn lực nội sinh đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước và ở từng địa phương.

Thứ năm, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới.

Nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp trước hết phải thể hiện "bản sắc ngoại giao thời đại mới", kết tinh "truyền thống vẻ vang của ngoại giao dân tộc, tính cách mạng của ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, tinh hoa của nền ngoại giao thế giới và tinh thần ngoại giao thời đại mới".

Đặc biệt phải vươn lên ngang nhóm dẫn đầu ở khu vực và vươn tầm quốc tế. Xây dựng hệ thống lý luận về đối ngoại trong kỷ nguyên mới. Tổ chức bộ máy, bố trí nguồn lực cho công tác đối ngoại đồng bộ, hợp lý, hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế, từng bước chính quy, hiện đại, chuẩn hóa; tương xứng với thế và lực của đất nước.

Từ bài học Đảng ta rút ra "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", trong kỷ nguyên mới, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại "vừa hồng, vừa chuyên": "toàn diện" về bản lĩnh, phẩm chất và trí tuệ, "hiện đại" về tư duy, phương pháp làm việc, "chuyên nghiệp" về lề lối, tác phong. Đặc biệt khơi dậy tinh thần "6 dám": "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn" vì lợi ích đất nước.

Đồng bộ với các Nghị quyết chiến lược khác, với mục tiêu "hiểu sâu, làm đúng, làm đến nơi đến chốn, làm hiệu quả"; quán triệt Nghị quyết là để hành động, hành động để tạo chuyển biến, chuyển biến để mang lại kết quả thực chất. Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 4 vấn đề lớn trong tổ chức thực hiện:

Một là, xác định rõ đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương đối ngoại và thông qua chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nếu đường lối đối ngoại của Đại hội XIV là sự kết tinh của tầm nhìn, ý chí chính trị của Đảng thì các nội dung của Nghị quyết 06-NQ/TW là sự cụ thể hóa cần thiết và quan trọng để hiện thực hóa tầm nhìn, ý chí chính trị đó. Việc triển khai Nghị quyết không phải chỉ là của các cơ quan đối ngoại mà của tất cả các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức, địa phương. Cần quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng. Chiêng có tốt thì tiếng mới vang xa”. Bằng việc làm tốt công việc của mình, từng bộ, ngành, địa phương cũng là góp phần xứng đáng vào công tác đối ngoại.

Hai là, nhanh chóng cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện của tất cả các ban, bộ, ngành, địa phương, gắn với triển khai Chương trình hành động của Chính phủ, trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và phân công cụ thể. Lấy kết quả cụ thể, tính thực tế, thực chất làm thước đo hiệu quả, loại bỏ tư duy hình thức, phô trương. Đề cao kỷ luật thực thi, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên việc triển khai Nghị quyết, qua đó nâng cao tính minh bạch và khả năng phản ứng chính sách kịp thời.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ cơ chế phối hợp liên ngành, liên lĩnh vực, giữa Trung ương và địa phương trong công tác đối ngoại: Kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước (bao gồm đối ngoại Quốc hội), đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ... tạo sức mạnh tổng hợp của đối ngoại, đưa đối ngoại trở thành một mặt trận thống nhất, vững mạnh trong đó ngoại giao cấp cao là động lực chủ công, mang tính dẫn dắt, định hướng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và hệ thống giám sát thời gian thực đối với việc thực hiện Nghị quyết, nhất là hệ thống theo dõi, đôn đốc, giám sát việc triển khai các cam kết, thỏa thuận quốc tế.

Bốn là, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, phối hợp triển khai Nghị quyết, đặc biệt là việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế; chuẩn bị triển khai xây dựng Chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới. Đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có năng lực tổ chức thực thi, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Khắc phục tình trạng yếu kém, trì trệ trong khâu tổ chức thực hiện, lấy kết quả thực chất làm tiêu chuẩn đánh giá cán bộ.

3. Một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng: Ngày 19/5/2026, Ban Bí thư ban hành Hướng dẫn số 01-HD/TW về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng. Hướng dẫn số 01-HD/TW được xây dựng trên cơ sở căn cứ vào Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV và Quy định số 20-QĐ/TW ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thi hành Điều lệ Đảng. Hướng dẫn này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Hướng dẫn số 06-HD/TW ngày 09/6/2025 của Ban Bí thư khóa XIII.

So với Hướng dẫn số 06-HD/TW, Hướng dẫn số 01-HD/TW có một số nội dung thay đổi cụ thể như: quy định chặt chẽ, cụ thể hơn trong việc thẩm tra lý lịch của người vào Đảng cũng như trách nhiệm của các tổ chức đảng có liên quan; mở rộng hơn về người cần thẩm tra về lý lịch, trong đó bao gồm người trực tiếp nuôi dưỡng bản thân, người trực tiếp nuôi dưỡng vợ/chồng của người vào Đảng; đồng thời yêu cầu xác định rõ năng lực hành vi dân sự của những người cần thẩm tra. Về phương pháp thẩm tra, trong khi Hướng dẫn số 06-HD/TW quy định nếu thân nhân người vào Đảng là đảng viên và lý lịch đầy đủ thì “không phải thẩm tra, xác minh”, thì ở Hướng dẫn số 01-HD/TW bổ sung thêm nội dung “phải có xác nhận của cấp ủy quản lý hồ sơ đảng viên". Việc kiểm soát hồ sơ khi người vào Đảng chuyển cơ quan, đơn vị cũng được quy định cụ thể và chặt chẽ hơn, trong đó nêu rõ thời gian chuyển hồ sơ, đơn vị chịu trách nhiệm tiếp nhận, tổ chức lễ kết nạp.

Về tặng Huy hiệu Đảng, hướng dẫn nêu, đảng viên có đủ 30, 35, 40, 45, 50, 55, 60, 65, 70, 75, 80, 85, 90, 95 năm tuổi Đảng được xét tặng Huy hiệu Đảng. Đảng viên có đủ 35 năm, 95 năm tuổi Đảng được xét tặng Huy hiệu Đảng từ ngày 08/4/2026. Đảng viên có trên 35 năm đến dưới 40 năm tuổi Đảng được xét tặng Huy hiệu 35 năm tuổi Đảng, hoàn thành trao tặng trước ngày 07/11/2026; không tặng, truy tặng Huy hiệu 35 năm tuổi Đảng đối với những đảng viên đã nhận hoặc đang đề nghị tặng, truy tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Đảng viên bị bệnh nặng được xét tặng Huy hiệu 30, 35, 40, 45, 50, 55, 60, 65 năm tuổi Đảng sớm, nhưng thời gian xét tặng sớm không được quá 12 tháng so với thời gian quy định; được xét tặng Huy hiệu 70, 75, 80, 85, 90, 95 năm tuổi Đảng sớm, nhưng thời gian xét tặng sớm không được quá 24 tháng so với thời gian quy định. Đảng viên từ trần được xét truy tặng Huy hiệu Đảng sớm, nhưng thời gian xét truy tặng sớm không được quá 12 tháng so với thời gian quy định.

Việc trao tặng Huy hiệu Đảng được tổ chức kịp thời vào dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn 3-2, 19-5, 2-9, 7-11 và các dịp kỷ niệm quan trọng khác tại tổ chức cơ sở đảng. Trường hợp đặc biệt, Ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh xem xét, quyết định.

4. Phát huy đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ

Công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ luôn được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc. Đây không chỉ là trách nhiệm đối với các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Giai đoạn 2021 - 2025, cả nước đã tìm kiếm, quy tập được gần 7.000 hài cốt liệt sĩ; tiếp nhận gần 13.500 mẫu hài cốt và mẫu thân nhân phục vụ giám định; xác định được danh tính hơn 100 liệt sĩ bằng phương pháp ADN và hơn 2.500 liệt sĩ bằng phương pháp thực chứng. Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu và ngân hàng gen thân nhân liệt sĩ tiếp tục được đẩy mạnh với gần 60.000 mẫu sinh phẩm đã được thu nhận, tạo cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi xác định danh tính liệt sĩ trong thời gian tới.

Tuy nhiên, khối lượng công việc còn rất lớn. Hiện nay, cả nước vẫn còn khoảng 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy và trên 300.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Trong khi đó, nguồn thông tin ngày càng hạn chế, nhân chứng lịch sử ngày càng ít, địa hình và hiện trạng nhiều khu vực đã thay đổi theo thời gian, làm gia tăng khó khăn đối với công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và nguyện vọng của thân nhân liệt sĩ, ngày 02/4/2026, Ban Chỉ đạo quốc gia đã phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, triển khai từ ngày 15/3/2026 đến ngày 27/7/2027, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027). Chiến dịch đặt ra các mục tiêu trọng tâm gồm: tìm kiếm, quy tập khoảng 7.000 hài cốt liệt sĩ; hoàn thành lấy mẫu đối với khoảng 230.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính; giám định ADN khoảng 18.000 mẫu hài cốt; xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu gen thân nhân liệt sĩ; đẩy mạnh rà phá bom mìn, vật nổ phục vụ công tác tìm kiếm tại các địa bàn trọng điểm.

Ngay sau khi phát động, các bộ, ngành, địa phương và lực lượng chức năng đã tích cực triển khai nhiệm vụ theo kế hoạch. Bộ Quốc phòng tiếp tục duy trì hoạt động của 24 đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trong nước, tại Lào và Campuchia; đồng thời giao chỉ tiêu cụ thể cho các đơn vị thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2026 - 2027. Đến nay đã tìm kiếm, quy tập được 1.109 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 242 hài cốt trong nước, 173 hài cốt tại Lào và 694 hài cốt tại Campuchia; phát hiện thêm các địa điểm nghi có mộ liệt sĩ tập thể để tiếp tục xác minh, khảo sát và tổ chức tìm kiếm.

Công tác rà phá bom mìn, vật nổ phục vụ tìm kiếm, quy tập được triển khai đồng bộ tại nhiều địa bàn trọng điểm. Các quân khu đã thành lập 360 đội rà phá với gần 5.000 cán bộ, chiến sĩ tham gia; huy động hơn 1.300 thiết bị chuyên dụng phục vụ nhiệm vụ. Đến nay đã rà phá được khoảng 3.500 ha đất, trong đó nhiều khu vực trọng điểm đã đạt tỷ lệ hoàn thành cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng phạm vi tìm kiếm trong thời gian tới.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chiến dịch là tổ chức lấy mẫu hài cốt liệt sĩ chưa xác định được thông tin để phục vụ giám định ADN. Bộ Quốc phòng đã ban hành đầy đủ quy trình kỹ thuật, tổ chức tập huấn toàn quốc và hướng dẫn các địa phương triển khai thống nhất. Đến nay, 100% quân khu, tỉnh, thành phố đã xây dựng kế hoạch thực hiện; thành lập gần 300 tổ, đội lấy mẫu với hơn 3.600 nhân sự tham gia; bước đầu tổ chức lấy mẫu tại hàng nghìn phần mộ liệt sĩ đủ điều kiện phục vụ công tác giám định và xác định danh tính.

Cùng với đó, việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang trở thành một trong những giải pháp đột phá nhằm nâng cao hiệu quả Chiến dịch. Hệ thống phần mềm quản lý thông tin mẫu hài cốt liệt sĩ, phần mềm theo dõi tiến độ và cơ sở dữ liệu phục vụ đối sánh ADN đang được hoàn thiện và đưa vào vận hành. Các cơ quan chức năng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong số hóa hồ sơ liệt sĩ, nhận diện thông tin, phân tích dữ liệu và xây dựng ngân hàng gen, góp phần nâng cao độ chính xác và rút ngắn thời gian xác minh, đối sánh thông tin.

Thời gian tới, Ban Chỉ đạo quốc gia xác định tiếp tục tập trung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; đẩy mạnh công tác rà soát, thu thập, xác minh thông tin; tổ chức các hội thảo khoa học xác minh thông tin mộ liệt sĩ tập thể; mở rộng việc thu nhận ADN thân nhân liệt sĩ trên phạm vi toàn quốc; đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và cơ sở dữ liệu số trong toàn bộ quy trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, huy động sự tham gia của các cấp, các ngành, địa phương và nhân dân trong cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ, tạo sức mạnh tổng hợp để hoàn thành các mục tiêu của Chiến dịch.

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương cùng quyết tâm của các lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, Chiến dịch 500 ngày đêm đang tạo chuyển biến tích cực trong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đây là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, góp phần tri ân các anh hùng liệt sĩ, đáp ứng nguyện vọng của thân nhân và nhân dân, đồng thời tiếp tục bồi đắp truyền thống yêu nước, đạo lý nhân văn và trách nhiệm đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

5. Nguyên tắc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố

Nhằm bảo đảm việc triển khai được thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả việc sắp xếp thôn, tổ dân phố trong cả nước, phù hợp với yêu cầu quản lý trong tình hình mới, Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ nguyên tắc, yêu cầu sắp xếp như sau:

Việc sắp xếp thôn, tổ dân phố phải bảo đảm phù hợp với tiêu chí, điều kiện theo quy định của Chính phủ và yêu cầu quản lý của địa phương khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời xem xét đầy đủ các yếu tố đặc thù về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư, nhất là tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có yếu tố tôn giáo; gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, mục tiêu tăng trưởng “2 con số” và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

Trong quá trình triển khai thực hiện phải giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, không để xảy ra điểm nóng, vụ việc phức tạp ở cơ sở; giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết cộng đồng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Việc bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, đúng quy định gắn với quá trình triển khai thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố ở địa phương; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách, bảo đảm ổn định tư tưởng và quyền lợi của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức. Lựa chọn, giới thiệu người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là người có uy tín, sức khỏe, tâm huyết, trách nhiệm, năng lực vận động quần chúng nhân dân, từng bước trẻ hóa, nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng quản trị cộng đồng và chất lượng, hiệu quả phục vụ Nhân dân. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận cao của Nhân dân; bảo đảm người dân được thông tin đầy đủ, tham gia góp ý, giám sát việc sắp xếp thôn, tổ dân phố theo đúng quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Ngày 26/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; nêu rõ nguyên tắc tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố như sau:

Tổ chức của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; phù hợp với quy mô dân cư, đặc điểm địa bàn và yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương cấp xã. Bảo đảm và đề cao tính tự quản của cộng đồng dân cư; phát huy quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân trong tổ chức đời sống cộng đồng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương. Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phân định rõ nhiệm vụ tự quản của cộng đồng dân cư với nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã.

Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố với Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản trên địa bàn; phát huy vai trò của Nhân dân trong bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng dân cư. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, tạo thuận lợi cho Nhân dân tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động cộng đồng và phối hợp với chính quyền địa phương cấp xã trong các hoạt động tại địa bàn.

6. Kết quả chuyến thăm chính thức Thái Lan, thăm cấp Nhà nước tới Singapore, dự Đối thoại Shangri-La 2026 và thăm cấp Nhà nước tới Philippines của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Từ ngày 27/5 - 01/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước ta đã có chuyến thăm chính thức Thái Lan, thăm cấp Nhà nước tới Singapore, phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La 2026 và thăm cấp Nhà nước tới Philippines. Chuyến thăm có ý nghĩa hết sức đặc biệt và đã thành công tốt đẹp, đạt ở mức cao các mục tiêu đề ra. 

Đây cũng là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới các nước ASEAN sau thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Thái Lan, Philippines kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn Philippines là nước Chủ tịch ASEAN 2026, Singapore là nước Chủ tịch ASEAN 2027 và Việt Nam là nước chủ nhà cấp cao APEC 2027. Vì vậy, chuyến thăm lần này đã mở ra phương hướng hợp tác mới giữa Việt Nam với cả ba đối tác, khi Việt Nam và các đối tác đều đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu mới, trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã có các chương trình làm việc phong phú, thực chất, đặc biệt là các cuộc hội đàm, hội kiến, trao đổi sâu rộng với các vị lãnh đạo cấp cao của Thái Lan, Singapore, Philippines, có các cuộc làm việc, tham gia các diễn đàn quan trọng với các tập đoàn, doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, tìm hiểu các cơ sở khoa học công nghệ tiêu biểu và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại ba nước. Cả ba nước đều dành cho Đoàn sự tiếp đón trọng thị, chu đáo, nồng ấm, chân tình với nghi lễ đón tiếp ở mức cao nhất, có nhiều biệt lệ.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có phát biểu dẫn đề quan trọng tại Đối thoại Shangri-La - diễn đàn an ninh, quốc phòng quốc tế có uy tín, ảnh hưởng hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương với sự tham dự của khoảng 500 đại biểu từ hơn 40 quốc gia. Phát biểu dẫn đề của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về hòa bình, an ninh quốc tế và khu vực đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về tình hình thế giới hiện nay, những thách thức đặt ra và những kiến nghị, đề xuất quan trọng, được các đoàn đại biểu tham dự Hội nghị, cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao; thể hiện đậm nét vai trò của Việt Nam với tư cách một thành viên trách nhiệm trong các vấn đề hòa bình, an ninh và phát triển của khu vực và toàn cầu.

Kết quả nổi bật của chuyến thăm là tin cậy chính trị giữa Việt Nam và ba nước được củng cố mạnh mẽ. Việt Nam đã thúc đẩy về chất quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Thái Lan, nâng tầm hợp tác chiến lược với Singapore thông qua cơ chế Đối thoại chiến lược giữa hai Đảng cầm quyền, nâng tầm khuôn khổ quan hệ với Philippines lên Đối tác Chiến lược Tăng cường.

Các nhà lãnh đạo nhất trí xác lập các cơ chế mới, thể hiện sự tin cậy chính trị, gia tăng chiều sâu quan hệ và tạo khuôn khổ thúc đẩy hợp tác đi vào chiều sâu; trọng tâm là Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan giai đoạn 2026 - 2031 và cơ chế Đối thoại chiến lược giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Hành động Nhân dân Singapore. Việt Nam đã củng cố toàn diện, thúc đẩy hợp tác năng động, hiệu quả với ba nước trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội và giao lưu nhân dân; gia tăng gắn kết, liên kết giữa Việt Nam với các nước và giữa các nước ASEAN, cụ thể hóa nội hàm, thúc đẩy các đột phá, phát triển mới về chất trên các lĩnh vực hợp tác giữa Việt Nam và 3 nước về quốc phòng - an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, văn hóa, giáo dục - đào tạo, du lịch, giao lưu nhân dân. Đồng thời, hợp tác trên các lĩnh vực mới nhiều tiềm năng, có ý nghĩa quan trọng chiến lược đối với sự phát triển của nước ta được mở rộng, nhất là trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, chuyển dịch năng lượng công bằng, chính phủ điện tử, du lịch và kết nối địa phương,… 

Các đồng chí thành viên đoàn đã có nhiều cuộc làm việc, trao đổi thực chất với các đối tác tại ba nước. Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Thái Lan có sự tham dự của Thủ tướng Thái Lan và tham gia của khoảng gần 700 doanh nghiệp hai nước, trong đó có 550 doanh nghiệp Thái Lan; Diễn đàn Kết nối Công nghệ TechConnect tại Singapore có sự tham gia của 500 đại diện Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nghiên cứu hai nước. 20 văn kiện hợp tác, kinh doanh trên nhiều lĩnh vực đã được ký kết ở Thái Lan, 31 văn kiện ở Singapore và gần 20 văn kiện ở Philippines. Những con số này thể hiện mong muốn hợp tác sâu sắc của các đối tác với Việt Nam cũng như tiềm năng to lớn trong hợp tác giữa nước ta và 3 nước.

Như vậy, có thể thấy, chuyến thăm chính thức Thái Lan, thăm cấp Nhà nước tới Singapore, dự Đối thoại Shangri-La 2026 và thăm cấp Nhà nước tới Philippines của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thành công tốt đẹp, đạt được nhiều kết quả quan trọng, qua đó củng cố môi trường hòa bình, ổn định, cục diện đối ngoại thuận lợi, nhất là đối với các đối tác trong ASEAN, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở khu vực. Chuyến thăm cũng là minh chứng rõ nét cho việc nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp chủ động, tích cực vào giải quyết các vấn đề chung của quốc tế.

7. Một số kết quả nổi bật của Diễn đàn Tương lai ASEAN và dấu ấn của Việt Nam

Diễn đàn Tương lai ASEAN (ASEAN Future Forum - AFF) lần thứ ba diễn ra tại Hà Nội trong hai ngày 09 - 10/6/2026 đã thành công tốt đẹp, tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn đối thoại quan trọng về các vấn đề chiến lược của khu vực. Những kết quả đạt được tại Diễn đàn không chỉ góp phần thúc đẩy tư duy đổi mới, tăng cường đồng thuận và hợp tác trong ASEAN mà còn khẳng định vai trò, vị thế ngày càng cao của Việt Nam trong các vấn đề khu vực và quốc tế.

Diễn đàn Tương lai ASEAN là sáng kiến do Việt Nam khởi xướng từ năm 2023 nhằm tạo không gian trao đổi giữa các nhà lãnh đạo, học giả, chuyên gia, doanh nghiệp và các đối tác về những vấn đề chiến lược, góp phần định hình tương lai phát triển của ASEAN. Sau thành công của các kỳ Diễn đàn năm 2024 và 2025, AFF 2026 được tổ chức với chủ đề “Cùng định hình tương lai chung: Hòa bình, Thịnh vượng, Lấy người dân làm trung tâm”.

AFF 2026 có quy mô lớn nhất từ trước đến nay với hơn 1.200 đại biểu tham dự đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm lãnh đạo cấp cao, bộ trưởng, đại diện các nước ASEAN, các đối tác của ASEAN, các tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương. Trong đó có sự tham dự của Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone, Thủ tướng Campuchia Hun Manet, Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul, Thủ tướng Timor-Leste Kay Rala Xanana Gusmão và Tổng Thư ký ASEAN Kao Kim Hourn.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh chủ đề của AFF 2026 phản ánh những giá trị cốt lõi và định hướng phát triển của ASEAN trong giai đoạn mới. Trên hành trình triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, Thủ tướng đề xuất ASEAN cần hướng tới ba tầm vóc chiến lược: tham gia và góp phần định hình các xu thế toàn cầu; trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực; xây dựng ASEAN thực sự là cộng đồng của người dân.

Trong hai ngày làm việc, Diễn đàn đã tổ chức nhiều phiên thảo luận chuyên sâu về các vấn đề chiến lược như tăng cường tự cường và đoàn kết trong bối cảnh thế giới biến động; thúc đẩy các sáng kiến phòng ngừa xung đột; bảo đảm an ninh năng lượng; hợp tác ASEAN - Hoa Kỳ; các mô hình phát triển mới trong bối cảnh chuyển dịch toàn cầu; tác động của môi trường chiến lược đang thay đổi đối với ASEAN. Những ý kiến, đề xuất tại Diễn đàn sẽ được tổng hợp, báo cáo tới các nhà lãnh đạo ASEAN để tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách và xây dựng các định hướng phát triển của khu vực.

Một điểm nhấn quan trọng của AFF 2026 là lần đầu tiên tổ chức Hội nghị Lãnh đạo các thành phố ASEAN với sự tham gia của hơn 250 đại biểu đến từ 25 địa phương trong khu vực. Hội nghị đã tạo diễn đàn để các đô thị ASEAN chia sẻ kinh nghiệm về phát triển xanh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Các đại biểu thống nhất rằng công nghệ và hạ tầng số chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với năng lực quản trị hiện đại và phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng xanh, nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và đặt người dân ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển.

Bên cạnh đó, Tọa đàm giữa các chính đảng từ các quốc gia thành viên ASEAN với sự tham gia của 11 chính đảng đến từ 11 quốc gia đã tạo thêm một kênh đối thoại mới nhằm tăng cường trao đổi kinh nghiệm, đóng góp cho tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN. Các đại biểu nhất trí đề xuất duy trì hoạt động này thành cơ chế thường niên nhằm tăng cường hiểu biết, củng cố đoàn kết và nâng cao năng lực thích ứng của ASEAN trước những thách thức mới.

Phát biểu bế mạc Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung khẳng định các nội dung được thảo luận tại AFF 2026 đều là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với ASEAN và các đối tác. Qua các phiên trao đổi, tinh thần cộng đồng ASEAN được thể hiện rõ nét hơn; đồng thời cho thấy sự đồng thuận ngày càng cao về yêu cầu tăng cường tự cường, nâng cao khả năng thích ứng và xây dựng môi trường chiến lược ổn định trong dài hạn. Sau ba năm tổ chức, Diễn đàn Tương lai ASEAN đã từng bước trở thành một nền tảng quan trọng thúc đẩy các nỗ lực chung nhằm xây dựng Cộng đồng ASEAN và củng cố quan hệ giữa ASEAN với các đối tác quốc tế.

AFF 2026 tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế. Sự tham dự đông đảo của các nhà lãnh đạo, tổ chức quốc tế, học giả và cộng đồng doanh nghiệp thể hiện sự tin tưởng đối với vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại, xây dựng đồng thuận và đóng góp vào các vấn đề chiến lược của khu vực.

Đáng chú ý, những nội dung được Việt Nam thúc đẩy tại Diễn đàn đều gắn với các ưu tiên phát triển dài hạn của ASEAN như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh, quản trị trí tuệ nhân tạo lấy con người làm trung tâm, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng cường kết nối Tiểu vùng Mekong. Điều này cho thấy Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình định hình các định hướng phát triển của ASEAN trong giai đoạn mới.

Trong khuôn khổ Diễn đàn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tiếp Trưởng đoàn các nước, chuyên gia, học giả và đại diện các tổ chức quốc tế tham dự AFF 2026. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh ASEAN đang bước vào năm đầu tiên triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 với nhiều cơ hội và kỳ vọng mới. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, ưu tiên của ASEAN là duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển; nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế và bảo đảm đời sống người dân.

Các đoàn đại biểu tham dự đều đánh giá cao sáng kiến tổ chức Diễn đàn Tương lai ASEAN của Việt Nam. Nhiều ý kiến khẳng định AFF đã trở thành một diễn đàn uy tín, cởi mở, bao trùm và có tính xây dựng, đóng góp tích cực cho quá trình hoạch định các định hướng phát triển dài hạn của ASEAN. Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone nhận định AFF đã trở thành nền tảng quan trọng để các quốc gia ASEAN cùng trao đổi, tìm kiếm tiếng nói chung trong giải quyết các thách thức mới nổi. Nhiều học giả quốc tế cũng cho rằng thành công của AFF 2026 đã góp phần nâng cao đáng kể vị thế của Việt Nam như một trung tâm đối thoại và hợp tác năng động của khu vực.

Có thể khẳng định, việc tổ chức thành công Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 tiếp tục thể hiện vai trò chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Thông qua Diễn đàn, Việt Nam không chỉ góp phần thúc đẩy đối thoại, tăng cường đồng thuận và củng cố đoàn kết ASEAN mà còn tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực đóng góp vào quá trình xây dựng một ASEAN hòa bình, ổn định, tự cường và phát triển bền vững, lấy người dân làm trung tâm.

 

III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

Thông tư số 14/2026/TT-BNV ngày 29/5/2026 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Thông tư gồm 05 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Một số nội dung chủ yếu của Thông tư:

Thông tư số 14/2026/TT-BNV quy định chi tiết việc điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, h và i khoản 1, Điều 1 Nghị định số 162/2026/NĐ-CP hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/7/2026, bao gồm đối tượng đang bị tạm dừng hưởng trước ngày 01/7/2026 mà từ ngày 01/7/2026 trở đi được tiếp tục chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Theo Thông tư, từ ngày 01/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của các đối tượng quy định tại khoản 1, Điều 2 Thông tư này được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026.

Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 x 1,08.

Đối với các nhóm đối tượng nghỉ việc hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/01/1995 sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% mà có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng thấp hơn 3,8 triệu đồng/tháng tiếp tục được điều chỉnh như sau:

Người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% bằng hoặc thấp hơn 3,5 triệu đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng thêm 300.000 đồng/tháng.

Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi được điều chỉnh theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Thông tư này + 300.000 đồng/tháng.

Người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi thực hiện điều chỉnh tăng 8% mà cao hơn 3,5 triệu đồng/tháng nhưng thấp hơn 3,8 triệu đồng/tháng thì được điều chỉnh tăng lên bằng 3,8 triệu đồng/tháng.

Cụ thể, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng từ tháng 7/2026 = 3,8 triệu đồng/tháng.

Đối tượng đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, trợ cấp phục vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trước ngày 01/7/2026 thì mức hưởng trợ cấp tuất hằng tháng từ ngày 01/7/2026 được tính theo mức lương cơ sở quy định tại Nghị định số 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy

Admin Ban Tuyên giáo
Tin tức sự kiện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0