I. TIN THÀNH PHỐ
1. Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành uỷ thực hiện Kết luận số 18-KL/TW, ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Chương trình hành động số 20-CTr/TU, ngày 24/4/2026 thực hiện Kết luận số 18-KL/TW, ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
Chương trình hành động được ban hành nhằm phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững với tăng trưởng GRDP giai đoạn 2026-2030 đạt bình quân 13%/năm trở lên, phấn đấu đạt 14%/năm; lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Phát huy hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, tạo bứt phá trong phát triển.
Xây dựng Hải Phòng trở thành Thành phố cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống tầm cỡ khu vực Đông Nam Á; tiên phong trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo; là trung tâm kinh tế biển, du lịch chất lượng cao, dịch vụ - logistics và năng lượng sạch hàng đầu cả nước, trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ biển. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Hải Phòng; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường liên kết vùng, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, khẳng định vai trò động lực của khu vực phía Bắc.
Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao, an sinh và phúc lợi xã hội toàn diện, tiệm cận các thành phố tiêu biểu trong khu vực; quốc phòng - an ninh được bảo đảm, trật tự an toàn xã hội vững chắc.
Chương trình hành động đề ra 35 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó nổi bật như tăng trưởng GRDP giai đoạn 2026 - 2030 đạt bình quân 13%/năm trở lên, phấn đấu đạt 14%/năm; trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 15,2%/năm; dịch vụ tăng 10,9%/năm; nông, lâm và thủy sản tăng 2%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8%/năm. GRDP bình quân đầu người năm 2030 (giá hiện hành) đạt 11.247 USD/người. Tỷ trọng đóng góp của kinh tế số trong GRDP đến năm 2030 đạt trên 35%. Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn bình quân phấn đấu đạt khoảng 43% GRDP, tương đương 2,4 triệu tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công chiếm 10%. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến năm 2030 đạt 245.500 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 122.000 tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu phấn đấu đến năm 2030 đạt 75 tỷ USD trở lên. Sản lượng hàng hoá thông qua các cảng trên địa bàn năm 2030 đạt 380 triệu tấn. Khách du lịch đến năm 2030 đạt 25 triệu lượt. Chỉ số phát triển con người giai đoạn 2026 - 2030 đạt 0,8. Hoàn thành khoảng 32.900 căn nhà ở xã hội trong giai đoạn 2026 - 2030…
Để thực hiện được các mục tiêu, chỉ tiêu trên, Chương trình hành động đưa ra 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm: (1) Nhóm nhiệm vụ và giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030; (2) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về quản lý tài chính, ngân sách thành phố; (3) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp vay trả nợ công; (4) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030.
Ban Thường vụ Thành uỷ yêu cầu các đảng uỷ trực thuộc Thành uỷ tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Chương trình hành động; căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao xây dựng kế hoạch thực hiện, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra.
2. Chỉ thị của Ban Thường vụ Thành uỷ về tăng cường công tác xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện hành chính, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành phố
Ban Thường vụ Thành uỷ vừa ban hành Chỉ thị số 11-CT/TU, ngày 13/5/2026 về tăng cường công tác xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện hành chính; nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Theo đó, Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan, đơn vị có liên quan tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Một là, về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải xác định công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết dứt điểm, đúng pháp luật các vụ việc khiếu nại, tố cáo, nâng cao chất lượng hoà giải ngay từ cơ sở, hạn chế phát sinh khiếu kiện vượt cấp, kéo dài; thực hiện nghiêm các quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành; bảo đảm việc thụ lý, xác minh, đối thoại, ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, thời hạn và thời hiệu theo quy định; khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh đối thoại, xác định sai thẩm quyền, kéo dài thời gian giải quyết.
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm trực tiếp trước cấp trên nếu để xảy ra tình trạng khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài do thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết; tăng cường công tác tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với nhân dân theo đúng các quy định, kết luận của Bộ Chính trị, của Ban Thường vụ Thành uỷ.
Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện nghiêm các quy định của Luật Tiếp công dân và các văn bản hướng dẫn thực hiện; tập trung kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai đã giải quyết nhưng người dân vẫn còn bức xúc, khiếu kiện kéo dài; chủ động phát hiện, khắc phục sai sót (nếu có), bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Kịp thời xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm.
Hai là, về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Cấp ủy, chính quyền các cấp phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai; chủ động phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật ngay từ khi mới phát sinh; tuyệt đối không để vi phạm kéo dài, gây khó khăn, phức tạp cho công tác xử lý và ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương.
Công tác xử phạt vi phạm hành chính phải bảo đảm tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm cá nhân trong việc chỉ đạo và tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định đối với các trường hợp cố tình không chấp hành quyết định xử phạt; đồng thời xem xét trách nhiệm của tập thể, cá nhân buông lỏng quản lý, để xảy ra vi phạm kéo dài hoặc chậm xử lý… Thực hiện công khai các trường hợp vi phạm hành chính, bảo đảm phục vụ kịp thời cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tham gia tố tụng hành chính.
Ba là, về tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính
Các cơ quan, người có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết khiếu nại theo đúng Luật Khiếu nại và Luật Xử lý vi phạm hành chính. Quá trình giải quyết bảo đảm khách quan, công khai; chú trọng đối thoại với người khiếu nại để làm rõ căn cứ pháp lý và thực tiễn; chủ động rà soát, kịp thời tự sửa đổi hoặc hủy bỏ các quyết định sai sót ngay từ cơ sở; gắn kết quả giải quyết khiếu nại với công tác thi đua, khen thưởng…
Bốn là, về công tác xét xử của tòa án nhân dân liên quan đến khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai
Các cấp ủy đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác phối hợp, tạo điều kiện để Tòa án nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng xét xử các vụ án hành chính trong lĩnh vực đất đai theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tính độc lập của hoạt động xét xử.
Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính. Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước bị kiện phải nêu cao trách nhiệm trực tiếp tham gia đối thoại, tham gia phiên tòa, hạn chế việc ủy quyền không đúng tinh thần chỉ đạo của cấp trên.
Kiên quyết xem xét trách nhiệm của tập thể, cá nhân là người bị kiện hoặc người được ủy quyền không tham gia tố tụng, không chấp hành yêu cầu của Tòa án, làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng giải quyết vụ án hành chính.
Năm là, về công tác thi hành bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai
Các cấp ủy, chính quyền các cấp phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và kịp thời các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án liên quan đến khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai. Kết quả thi hành án là tiêu chí cứng trong đánh giá xếp loại tổ chức đảng, cơ quan và cá nhân người đứng đầu hàng năm.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án thuộc thẩm quyền; kịp thời khắc phục các sai phạm đã được Tòa án chỉ ra; không để xảy ra tình trạng chậm thi hành, không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.
Siết chặt công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành bản án hành chính; xử lý nghiêm các trường hợp cố tình không chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật và quy định của Đảng.
Chỉ thị này thay thế Chỉ thị số 26-CT/TU, ngày 29/11/2023 của Ban Thường vụ Thành ủy “về nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai” và được phổ biến đến chi bộ để thực hiện.
3. Quy định khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý cấp xã
Ngày 15/5/2026, Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Quy định số 396-QĐ/TU về “khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý cấp xã”.
Quy định được ban hành làm cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, là căn cứ thống nhất để thực hiện các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, luân chuyển và đánh giá cán bộ, công chức cấp xã.
Quy định này áp dụng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị cấp xã. Quy định này quy định khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý cấp xã thuộc thẩm quyền quản lý của đảng ủy cấp xã (trừ các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý).
Quy định nêu rõ 8 nhóm tiêu chuẩn chung gồm: (1) Về phẩm chất chính trị, đạo đức, tinh thần phục vụ Nhân dân như tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng; thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng; chủ động gần dân, sát dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân... (2) Về hiểu biết chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước như hiểu, nắm vững, vận dụng đúng và linh hoạt các chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương; nhận diện kịp thời điểm nghẽn về thể chế, những khó khăn, vướng mắc tại cơ sở và chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ. (3) Về giao tiếp ứng xử và phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp như giao tiếp rõ ràng, chuẩn mực, thân thiện; chủ động và có trách nhiệm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dịch vụ công; có khả năng đối thoại, tiếp nhận, tuyên truyền, vận động và khả năng giải trình, xử lý phản ánh, kiến nghị, bức xúc… để xây dựng hình ảnh chính quyền kiến tạo phát triển, thân thiện, phục vụ Nhân dân. (4) Về đổi mới và cải tiến công việc như chủ động đề xuất giải pháp cải tiến quy trình công việc, giải quyết thủ tục hành chính và phương thức quản lý tại địa phương; áp dụng công nghệ, cải tiến, đổi mới phương pháp làm việc để nâng cao hiệu quả, tốc độ xử lý công việc và khả năng phối hợp liên thông trong phục vụ người dân và doanh nghiệp. (5) Về trình độ, tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp vị trí việc làm; tốt nghiệp Trung cấp lý luận chính trị trở lên (hoặc tương đương); có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và tương đương trở lên (trừ một số lực lượng đặc thù theo quy định ngành dọc cấp trên); có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, nền tảng số và trình độ ngoại ngữ phù hợp... (6) Về uy tín và khả năng quy tụ, đoàn kết, có uy tín, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân ở địa phương, cơ quan, đơn vị tin tưởng, tín nhiệm cao; có khả năng quy tụ, đoàn kết nội bộ, không bè phái, cục bộ… (7) Về kết quả công tác, có thành tích, kết quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành gắn với sản phẩm cụ thể theo chức trách, nhiệm vụ được giao hoặc tiêu chí kết quả công tác cụ thể theo quy định của ngành, lĩnh vực; được cấp có thẩm quyền nhận xét, đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong 03 năm gần nhất. (8) Về sức khỏe, độ tuổi và kinh nghiệm, đủ sức khỏe thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm tuổi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử theo quy định; có kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý.
Bên cạnh nhóm tiêu chuẩn chung, quy định cũng đề ra các tiêu chuẩn riêng với 8 nhóm chức danh cụ thể gồm: (1) Ủy viên ban chấp hành đảng bộ cấp xã; (2) Ủy viên ban thường vụ đảng ủy cấp xã; (3) Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã; (4) Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; (5) Cấp trưởng, cấp phó các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp đảng ủy cấp xã; (6) Chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam và trưởng các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã; (7) Trưởng phòng, phó trưởng phòng và tương đương trực thuộc UBND cấp xã; (8) Cấp trưởng, cấp phó các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp xã.
Quy định cũng đưa ra một số trường hợp đặc thù áp dụng tiêu chuẩn chức danh khi bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử như: Cán bộ được điều động, luân chuyển từ nơi khác đến không nhất thiết phải bảo đảm tiêu chuẩn “đã kinh qua chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp”. Cán bộ được bổ nhiệm giữ chức vụ tương đương hoặc kiêm nhiệm thêm chức vụ khác thì không nhất thiết phải bảo đảm đầy đủ tiêu chuẩn chức danh tương đương hoặc tiêu chuẩn chức vụ kiêm nhiệm. Cán bộ đang công tác trong cơ quan hành chính nhà nước chưa có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên hoặc tương đương thì phải hoàn thành trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày quyết định bổ nhiệm có hiệu lực. Trường hợp bổ nhiệm công chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước về chính sách thu hút, trọng dụng đối với người có tài năng, chuyên gia thì không nhất thiết phải bảo đảm đầy đủ tiêu chuẩn chức danh quy định tại Quy định này, nhưng phải hoàn thiện trong thời gian 36 tháng kể từ khi được bổ nhiệm. Khi xem xét, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử chức danh mới chưa có trong Quy định này thi áp dụng tiêu chuẩn chung và vận dụng tiêu chuẩn chức danh tương đương có vị trí, tính chất tương đồng. Trường hợp bổ nhiệm lần đầu vào các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp không nhất thiết phải bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn về thành tích lãnh đạo, quản lý, kinh qua chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp dưới. Các trường hợp đặc biệt khác do cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ xem xét, quvết định
Quy định này có hiệu lực từ ngày ký và thay thế các quy định trước đây của Ban Thường vụ Thành ủy về tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã.
4. Kết quả công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh 5 năm (2021 – 2025)
Trong 5 năm (2021 - 2025), quán triệt các văn bản chỉ đạo của Trung ương về tăng cường xây dựng, củng cố tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh được Thành ủy, các cấp ủy thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, bài bản và đạt được nhiều kết quả tích cực, rõ nét. Nổi bật là công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức đảng theo Thông báo số 614-TB/TU, ngày 08/12/2021 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện sắp xếp tổ chức đảng thuộc Đảng bộ thành phố Hải Phòng được triển khai quyết liệt, gắn với tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo chủ trương của Trung ương; số lượng tổ chức giảm nhưng chất lượng từng bước được củng cố sau hợp nhất, sáp nhập.
Hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kết nạp đảng viên và thành lập tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Nghiêm túc quán triệt triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng Bộ tiêu chí con người xã hội chủ nghĩa ở thành phố Hải Phòng. Sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW, Chỉ thị số 50-CT/TW được đổi mới với nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả.
Công tác kết nạp đảng viên được chú trọng gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi đảng. Việc đánh giá, xếp loại cán bộ hằng năm được triển khai bài bản với tiêu chí cụ thể, định lượng, cơ bản phản ánh đúng thực chất, gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng tổ chức, cá nhân.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác Tổ chức xây dựng Đảng được triển khai và bước đầu phát huy hiệu quả với nhiều cách làm mới, được Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận.
Phần lớn tổ chức đảng đã giữ vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên. Công tác kết nạp đảng viên đạt chỉ tiêu Nghị quyết số 21-NQ/TW đề ra, nhất là về số lượng; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị của đội ngũ đảng viên ngày càng tăng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh vẫn còn một số hạn chế, yếu kém như năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn hạn chế; phương thức hoạt động của một số tổ chức đảng chậm được đổi mới; chưa thực sự phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở. Chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhất là sinh hoạt chuyên đề ở nhiều nơi còn hạn chế. Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên có nơi còn hình thức; tính tiền phong, gương mẫu và phẩm chất đạo đức của một bộ phận đảng viên giảm sút…
Những hạn chế, yếu kém trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, nguyên nhân chủ quan được xác định là: một số cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ, chưa thực sự coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, chưa quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền; phân công, phân cấp giải quyết công việc chưa rõ ràng; thiếu kiểm tra, đôn đốc, giám sát cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ được giao; một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đề cao trách nhiệm nêu gương trong thực hiện…
Từ thực tiễn tình hình công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh 5 năm qua có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Một là, phải coi trọng quán triệt, cụ thể hóa kịp thời nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương; phân công nhiệm vụ thực hiện bảo đảm “6 rõ” - rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền.
Hai là, thường xuyên quan tâm xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; gắn xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và giải quyết vấn đề bức xúc của nhân dân.
Ba là, đổi mới tư duy lãnh đạo, tư duy phát triển và phương thức lãnh đạo theo hướng bám sát thực tiễn, phản ứng linh hoạt với sự thay đổi của thực tiễn; năng động, sáng tạo, quyết tâm cao, lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm, tập trung nguồn lực đủ mạnh và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao.
Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo hướng thiết thực, đúng trọng tâm; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu; tăng cường sinh hoạt chuyên đề. Chú trọng công tác cán bộ cơ sở; đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bố trí đúng người, đúng việc, nhất là bí thư cấp ủy và cấp ủy viên ở địa bàn khó khăn.
Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát cán bộ, đảng viên; dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Để phát huy các kết quả đã đạt được, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh 5 năm giai đoạn 2026-2030, Ban Thường vụ Thành uỷ xác định 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu gồm: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng; Đổi mới, sắp xếp, củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức đảng ở các loại hình; Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của Đảng bộ thành phố; Nâng cao chất lượng cấp uỷ, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở thực sự vững mạnh; Đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.
5. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn thành phố
Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, đạt được nhiều kết quả tích cực và toàn diện trên các lĩnh vực. Đây là nền tảng quan trọng để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 ước tăng 15,27% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số IIP tăng 15%. Thành phố tiếp tục đôn đốc triển khai thực hiện các nhiệm vụ đối với Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (đã hoàn thành khởi công dự án đầu tư hạ tầng kết nối các ga trên tuyến và quảng trường ga); đồng thời hoàn thiện Phương án, quy mô, hình thức đầu tư xây dựng trục kết nối cảng Lạch Huyện, khu vực phía Bắc thành phố với sân bay Gia Bình. Tình hình sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản duy trì ổn định, cơ bản bám sát kịch bản tăng trưởng.
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 78.461 tỷ đồng, đạt 40,3% dự toán giao và vượt 13,5% so với kịch bản tăng trưởng. Trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu thực hiện 29.104 tỷ đồng, đạt 34,6% dự toán giao, vượt 51,9% kịch bản tăng trưởng; thu nội địa thực hiện 43.091 tỷ đồng, đạt 41,8% dự toán giao, vượt 18,6% kịch bản tăng trưởng, trong đó thu tiền sử dụng đất thực hiện 9.266 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương lũy kế 4 tháng ước thực hiện đạt 24.869,095 tỷ đồng, đạt 27,4% dự toán Trung ương giao. Tính đến hết ngày 30/4/2026, lũy kế giải ngân vốn đầu tư công đạt 10.689 tỷ đồng, tương ứng đạt 27,6% so với Kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao và đạt 27,54% so với kế hoạch vốn thành phố giao, tăng 58,3% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi nổi và duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ nhờ nhu cầu du lịch, mua sắm tăng cao vào các kỳ nghỉ lễ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ lũy kế 4 tháng đầu năm ước đạt 138.290,63 tỷ đồng, đạt 32,3% kịch bản năm (427.880 tỷ đồng), tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm ước đạt 18,3 tỷ USD, tăng 26,2% so với cùng kỳ và vượt kịch bản tăng trưởng đề ra. Tổng kim ngạch nhập khẩu 4 tháng đầu năm ước đạt 21,4 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ. Sản lượng hàng hóa qua cảng 4 tháng đầu năm ước đạt 58,9 triệu tấn, tăng 11,6% so với cùng kỳ, đạt 24,8% kế hoạch năm. Trong 4 tháng đầu năm 2026, du lịch Hải Phòng ước đón và phục vụ 4,13 triệu lượt khách, đạt kịch bản tăng trưởng, doanh thu ước đạt 5.105 tỷ đồng. Hoạt động ngân hàng ổn định, nguồn vốn huy động trên địa bàn thành phố tính đến ngày 30/4/2026 ước đạt 666.690 tỷ đồng, tăng 2,74% so với cuối năm 2025 ; tổng dư nợ cho vay trên địa bàn thành phố đến 30/4/2026 ước đạt 538.344 tỷ đồng, tăng 6,05% so với cuối năm 2025.
Về thu hút và thực hiện đầu tư, tính chung 4 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thu hút vào thành phố ước đạt 1,29 tỷ USD, vượt kịch bản tăng trưởng và tăng 76,7% so với cùng kỳ, đạt 33,94% kế hoạch năm. Đối với thu hút đầu tư trong nước, lũy kế 4 tháng đầu năm thành phố đã thu hút được 56 dự án với tổng số vốn đăng ký gần 56.000 tỷ đồng. Công tác phát triển doanh nghiệp đạt kết quả tích cực khi tính chung 4 tháng đầu năm có 2.951 doanh nghiệp thành lập mới, vượt kịch bản tăng trưởng và tăng 42,01% so với cùng kỳ năm trước.
Trong công tác quy hoạch và phát triển đô thị, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Thành phố cũng đang tập trung tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, tính đến nay đã giải quyết xong 15 dự án và lập phương án giải quyết đối với 109 dự án, công trình khác.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục đào tạo tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác an sinh xã hội, phúc lợi công cộng luôn được quan tâm sâu sắc. Thành phố tích cực chỉ đạo đôn đốc tiến độ thi công các dự án nhà ở xã hội trọng điểm và hoàn thiện các tiêu chí chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.
An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững ổn định. Công tác quốc phòng – quân sự địa phương phối hợp chặt chẽ, hoạt động đối ngoại tiếp tục diễn ra chủ động, sôi nổi thông qua việc chủ trì đón tiếp và làm việc với nhiều đoàn công tác quốc tế lớn, góp phần quảng bá mạnh mẽ cơ chế chính sách ưu đãi và môi trường đầu tư vượt trội của thành phố đến bạn bè quốc tế.
Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới được xác định là tiếp tục tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các Nghị quyết, Kết luận… của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng thời triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các Nghị quyết, Kết luận, chỉ đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành uỷ, Thường trực Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; trong đó, tập trung vào nhiệm vụ, giải pháp quý II/2026 Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đã đề ra tại Hội nghị lần thứ 2, Chương trình công tác năm 2026, Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 06/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đề ra và các nhiệm vụ phát sinh theo yêu cầu của Trung ương, Thành uỷ, Ban Thường vụ Thành uỷ đảm bảo chất lượng, tiến độ theo nguyên tắc bám sát Chủ đề năm 2026 của thành phố.
II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI
1. Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
Thời gian qua, việc triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và công tác sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức cấp xã tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thực hiện nghiêm túc, đúng nguyên tắc của Đảng, quy định của Nhà nước. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cơ bản được kiện toàn, từng bước thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới; năng lực lãnh đạo, điều hành được nâng lên; phương thức làm việc bước đầu đáp ứng mục tiêu kiến tạo, phát triển và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, chức năng của cấp cơ sở đang và tiếp tục mở rộng, đặt ra yêu cầu tăng trưởng cao, phát triển bền vững, đồng thời đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc theo hướng chủ động, kiến tạo, phát triển. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, mang tính chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với năng lực quản trị, điều hành và thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước.
Thực hiện Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07/3/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, ngày 08/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nghiêm túc quán triệt, triển khai quyết liệt, đồng bộ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, các nghị quyết, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác cán bộ. Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương theo Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07/3/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng (thực hiện thường xuyên).
Khẩn trương chỉ đạo xây dựng kế hoạch, giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã phù hợp với đặc thù của địa bàn, vùng, miền, khu vực, đáp ứng yêu cầu linh hoạt trong tổ chức thực thi công vụ, hoàn thành trong tháng 5/2026.
Rà soát, đánh giá tổng thể chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã; hoàn thiện tiêu chuẩn, tiêu chí theo yêu cầu vị trí việc làm được quy định tại các văn bản của Bộ Chính trị về công tác cán bộ, Luật Cán bộ, công chức, các Nghị định của Chính phủ và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Tham mưu cấp ủy cùng cấp bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã bảo đảm "đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, đúng địa bàn" và phát huy năng lực thực tiễn, sở trường và kinh nghiệm công tác; triệt để phân công, điều động đối với các lãnh đạo, quản lý cấp phó đang vượt quy định của các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh, thành ủy, ủy ban nhân dân cấp tỉnh về cấp xã.
Ưu tiên bố trí cán bộ, công chức có bản lĩnh, khả năng chịu áp lực và kinh nghiệm xử lý tình huống về công tác tại các địa bàn phức tạp, khối lượng công việc lớn, nhất là các lĩnh vực đòi hỏi năng lực, trình độ chuyên môn chuyên sâu, như đất đai, xây dựng, dân tộc, tôn giáo, khiếu nại, tố cáo,… Kiên quyết không để xảy ra tình trạng phân công cán bộ, công chức không phù hợp với năng lực, sở trường công tác, hoàn thành trong Quý III/2026.
Tổ chức triển khai việc đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã trên cơ sở tiến độ, chất lượng xử lý công việc, năng lực phối hợp, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp; thực hiện tinh giản biên chế đối với những người năng lực yếu kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (thực hiện thường xuyên).
Thực hiện việc tuyển dụng để bổ sung nguồn nhân lực cho các cơ quan, đơn vị tại chính quyền địa phương cấp xã, ưu tiên người có tài năng và kinh nghiệm công tác đáp ứng ngay yêu cầu công việc (thực hiện thường xuyên).
Xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo yêu cầu vị trí việc làm, gắn với thực tiễn của địa bàn. Chú trọng bồi dưỡng năng lực thực thi công vụ, năng lực phát triển, năng lực xử lý tình huống; tăng cường hướng dẫn tại chỗ. Thực hiện chế độ, chính sách và tạo điều kiện để cán bộ, công chức vừa học, vừa làm, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động của cơ quan, đơn vị (thực hiện thường xuyên).
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã; siết chặt kỷ luật lao động, thực hiện nghiêm quy trình xử lý hồ sơ, thời hạn trả kết quả trên môi trường điện tử; ngăn chặn biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, chậm trễ trong giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp (thực hiện thường xuyên).
Bố trí kinh phí, đầu tư bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật, hạ tầng số, trang thiết bị làm việc của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo quy định (thực hiện thường xuyên).
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; rà soát, đánh giá tính khả thi của việc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định cho phù hợp, nhất là các nội dung phân cấp, phân quyền cho cấp xã, hoàn thành trong Quý II/2026.
Rà soát, đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; ban hành các quy định, hướng dẫn về hồ sơ, quy trình nghiệp vụ, thủ tục hành chính, xử lý các tình huống... đã phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho cấp tỉnh, cấp xã, phù hợp với trình độ, năng lực cán bộ, công chức, yêu cầu thực tiễn khi vận hành tổ chức bộ máy mới, hoàn thành trong Quý II/2026.
Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành bảo đảm liên thông, kết nối đồng bộ từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp xã; khẩn trương rà soát các hệ thống thông tin, phần mềm, ứng dụng thuộc phạm vi quản lý nhằm giải quyết dứt điểm những vấn đề tồn tại, vướng mắc bảo đảm thông suốt, đáp ứng yêu cầu người dùng (thực hiện thường xuyên).
Bộ Xây dựng tập trung xây dựng các chính sách nhà ở xã hội đối với cán bộ, công chức, viên chức có khó khăn về nhà ở, hoàn thành trong Quý III/2026.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hướng dẫn, bố trí kinh phí bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, chế độ, chính sách và kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo quy định (thực hiện thường xuyên).
Bộ Nội vụ hướng dẫn các hình thức đặc thù tuyển dụng để kịp thời bổ sung nguồn nhân lực cho cấp xã, hoàn thành trong Quý II/2026.
Hướng dẫn, đôn đốc, theo dõi các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung toàn quốc cho cán bộ, công chức cấp xã trên nền tảng "Bình dân học vụ số", hoàn thành trong tháng 12/2026.
Phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức cấp xã thuộc trách nhiệm quy định tại Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức và khoản 2 Mục VII Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thực hiện Chỉ thị; tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
2. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Ngày 11/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 21-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; trong đó nêu rõ nguyên tắc thi hành kỷ luật trong Đảng như sau:
Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải được xử lý công minh, chính xác, kịp thời; tất cả tổ chức đảng, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh. Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết, không được xử lý nội bộ. Nếu làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách nhiệm và bồi hoàn. Đảng viên sau khi chuyển sinh hoạt đảng sang tổ chức đảng mới hoặc tổ chức đảng kết thúc hoạt động hoặc do chia tách, sáp nhập, nếu phát hiện hoặc bị tố cáo có vi phạm ở nơi sinh hoạt đảng trước đây mà chưa được xem xét, xử lý thì do tổ chức đảng cấp trên của các tổ chức đảng nơi quản lý đảng viên trước đây và hiện nay xem xét, xử lý hoặc giao tổ chức đảng cấp dưới xem xét, xử lý, chỉ đạo xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Việc thi hành kỷ luật phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, ảnh hưởng, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định cho phù hợp và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại (trừ trường hợp có quy định khác). Tổ chức đảng sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng, chậm nhất 5 ngày phải chỉ đạo hoặc đề nghị với các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể hoặc xử lý hình sự cho đồng bộ, kịp thời.
Khi các tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đình chỉ công tác hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên (kể cả quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật về hành chính của các cấp chính quyền hoặc bản án, quyết định của tòa án) thì chậm nhất 5 ngày phải chủ động thông báo cho tổ chức đảng quản lý đảng viên đó để xem xét, xử lý kỷ luật đảng. Sau khi giải quyết khiếu nại kỷ luật về Đảng, nếu có thay đổi hình thức kỷ luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc xem xét lại hình thức kỷ luật về hành chính, đoàn thể.
Đối với đảng viên là cấp ủy viên các cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý đã nghỉ hưu, từ chức, miễn nhiệm hoặc cho thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc đã chuyển công tác khác, nếu phát hiện có vi phạm khi đang công tác thì thẩm quyền thi hành kỷ luật của các tổ chức đảng được thực hiện như đang đương chức. Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; đảng viên bị bệnh nặng thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật. Trường hợp đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan, sai đối với tổ chức đảng, đảng viên phải thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định đó, đồng thời tự phê bình, kiểm điểm, rút kinh nghiệm; nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định. Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật khai trừ, không áp dụng biện pháp xóa tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo, khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xóa tên trong danh sách đảng viên.
Khi kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng. Tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải được xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị. Các hình thức kỷ luật của Đảng: Đối với tổ chức đảng: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Đối với đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ. Đối với đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo.
3. Kế hoạch tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp
Kế hoạch tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp được ban hành bởi Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ, nêu rõ một số nội dung cần tập trung đánh giá, như sau:
Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, đánh giá việc quán triệt, nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và định hướng dư luận xã hội đối với việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp. Việc ban hành các văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp. Đặc biệt là công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức triển khai thực hiện của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và các địa phương; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp.
Về thực hiện chức năng, nhiệm vụ và phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, rà soát, đánh giá việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp xã khi tổ chức mô hình chính quyền địa phương 02 cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương; đánh giá tính khả thi của các nhiệm vụ, thẩm quyền thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ đã phân cấp, phân quyền từ trung ương xuống địa phương; những vướng mắc, khó khăn khi thực hiện các nhiệm vụ, thẩm quyền được phân cấp, phân quyền từ trung ương đề nghị tiếp tục tháo gỡ, ban hành văn bản hướng dẫn. Đánh giá nhiệm vụ, nội dung cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã gắn với cải cách thủ tục hành chính.
Về tổ chức bộ máy và nhân sự, đánh giá tình hình, kết quả sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền quản lý của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là việc điều chỉnh các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ công (như Ban Quản lý, các trung tâm,...); việc kiện toàn cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp xã và Trung tâm phục vụ hành chính công các cấp. Trong đó, chú trọng đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động, sự phù hợp trong quy định về chức năng, nhiệm vụ sau khi sắp xếp; những khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này. Đánh giá tổng thể việc bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức sau sáp nhập đơn vị sự nghiệp, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp, đặc biệt là hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại cấp xã sau sắp xếp, trọng tâm là đánh giá mức độ phù hợp giữa vị trí việc làm với trình độ, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức, những khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ này trong quá trình vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; đánh giá tình hình bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã làm nhiệm vụ hỗ trợ cho hoạt động của hệ thống chính trị tại đơn vị hành chính cấp xã mới từ ngày 01/7/2025 đến nay.
Đánh giá mức độ hiệu lực, hiệu quả vận hành của tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện chức năng quản trị, kiến tạo phát triển và phục vụ Nhân dân, nhất là trong việc cung ứng dịch vụ công; trong đó làm rõ mức độ thông suốt, liên thông trong xử lý công việc giữa các cấp, các cơ quan; chất lượng, tiến độ giải quyết thủ tục hành chính; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; khả năng thích ứng của bộ máy và đội ngũ sau sắp xếp; những vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.
Về thủ tục hành chính, đánh giá việc triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, việc kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia, VNeID, thanh toán điện tử; tỷ lệ cấu hình thủ tục hành chính, mức độ liên thông, hoạt động của Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tình hình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo các mức độ và kết quả đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công. Đề xuất nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới.
Về bảo đảm nguồn lực tài chính hoạt động của chính quyền cấp xã, đánh giá việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước cho chính quyền cấp xã sau sắp xếp, trong đó làm rõ nguyên tắc, tiêu chí, mức độ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; khả năng đáp ứng yêu cầu hoạt động thường xuyên và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; những khó khăn, bất cập trong quá trình phân bổ và tổ chức thực hiện. Đánh giá tình hình thực hiện thu, chi ngân sách của chính quyền cấp xã; mức độ chủ động trong quản lý, điều hành ngân sách; hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính; việc bảo đảm cân đối ngân sách, chấp hành kỷ luật, kỷ cương tài chính; những khó khăn, vướng mắc phát sinh và kiến nghị, đề xuất. Đánh giá nhu cầu và đề xuất cơ chế, chính sách tài chính đặc thù đối với chính quyền cấp xã sau sắp xếp, nhất là các địa bàn có quy mô lớn, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc phát sinh nhiệm vụ mới; trong đó làm rõ yêu cầu về định mức phân bổ, cơ chế tự chủ và các giải pháp bảo đảm nguồn lực ổn định, lâu dài cho hoạt động của chính quyền cấp xã.
Về cơ sở vật chất, hỗ trợ nhà ở, trang thiết bị, tài sản công, đánh giá tổng thể về việc xử lý, sử dụng cơ sở nhà đất, trang thiết bị, tài sản công; các điều kiện đảm bảo vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, bao gồm cơ sở vật chất, trụ sở làm việc, phòng họp trực tuyến, trang thiết bị làm việc; các chính sách hỗ trợ về đi lại, nhà ở đối với công chức, viên chức sau khi thực hiện sắp xếp. Về giải quyết tài sản công dôi dư (trụ sở, đất đai, trang thiết bị với số lượng, tỷ lệ cụ thể).
Về hạ tầng công nghệ, chuyển đổi số, đánh giá mức độ chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương; đánh giá hạ tầng công nghệ thông tin, mức độ triển khai chuyển đổi số đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; trong đó làm rõ mức độ đồng bộ, liên thông hệ thống thông tin giữa các cấp; khả năng đáp ứng trong giải quyết thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công trực tuyến; mức độ tiếp cận, sử dụng dịch vụ số của người dân, doanh nghiệp; kỹ năng số của cán bộ, công chức cấp xã; những khó khăn, vướng mắc, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp và nhu cầu đầu tư, nâng cấp trong thời gian tới. Đánh giá việc hình thành dữ liệu dùng chung, khả năng khai thác dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành chuyên môn, nghiệp vụ, triển khai Kiến trúc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước và hiệu quả ứng dụng khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Về số hóa, chỉnh lý tài liệu lưu trữ, đánh giá công tác số hóa, chỉnh lý, quản lý hồ sơ, tài liệu lưu trữ; trong đó làm rõ khối lượng, tiến độ số hóa, mức độ hoàn thiện việc chỉnh lý hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp đơn vị hành chính; việc tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính; mức độ bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin; những khó khăn, vướng mắc và nhu cầu về nguồn lực, hạ tầng, giải pháp trong thời gian tới.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của bộ, ngành địa phương, trên cơ sở kết quả đánh giá theo các nội dung nêu trên cần làm rõ nhiệm vụ, giải pháp cơ bản thực hiện trong thời gian tới. Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức sơ kết trước ngày 20/6/2026.
4. Phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và Kế hoạch 5 năm (2026 - 2030) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Trong những năm qua, phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng đã được tổ chức thực hiện có hiệu quả, phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ, động viên các cấp, các ngành, các tầng lớp Nhân dân vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và đã đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và giai đoạn 2021 - 2025. Nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và Kế hoạch 5 năm (2026 - 2030) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tại Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 23/4/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục quán triệt, triển khai, tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng; quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 26/12/2024 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới”, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận thức, tư tưởng và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, làm cho thi đua thực sự trở thành ý thức tự giác, trách nhiệm và thường xuyên của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đơn vị, cá nhân, tạo thành cao trào hành động cách mạng, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự hào dân tộc, tạo động lực góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Tổ chức các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả, bám sát nội dung định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và chủ đề “Thi đua đổi mới, sáng tạo, tăng tốc bứt phá đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường, văn minh, thịnh vượng” được phát động tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI. Quán triệt các quan điểm chỉ đạo theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tập trung cụ thể hóa và thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026 - 2030, 12 định hướng phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược, quyết tâm phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát đã đề ra: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; đến năm 2030 trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các phong trào thi đua, với hình thức phong phú, đa dạng, nội dung cụ thể, thiết thực, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, tập trung thi đua thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm của Đảng, Nhà nước, của từng bộ, ngành, địa phương, gắn với mục tiêu cụ thể, lấy kết quả phục vụ Nhân dân làm thước đo. Thi đua vận hành hiệu quả hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thi đua đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; thi đua xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn; thi đua xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại; thi đua phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả; nâng cao chất lượng doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia; thi đua phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; thi đua củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; thi đua đẩy mạnh công tác đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước. Phong trào thi đua phải phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các vùng miền, địa phương, hướng về cơ sở, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; coi trọng người lao động trực tiếp và lực lượng tuyến đầu. Thi đua phải phát triển mạnh mẽ trong Nhân dân, đến từng cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương và cả nước.
Thường xuyên quan tâm phát hiện, bồi dưỡng các nhân tố, điển hình mới, tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến; khuyến khích, tạo điều kiện để các điển hình tiên tiến tiếp tục phát huy, lan tỏa, nêu gương người tốt, việc tốt, tạo động lực thúc đẩy, cổ vũ các phong trào thi đua. Các bộ, ngành, địa phương có kế hoạch cụ thể để bồi dưỡng, xây dựng các mô hình mới, nhân tố mới trong từng năm, cả giai đoạn, được thực hiện từ cơ sở và đồng bộ tốt cả bốn khâu: Phát hiện - bồi dưỡng - tổng kết - nhân điển hình tiên tiến. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện, biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân, hộ gia đình đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc, có tác động tích cực, lan tỏa trong đời sống xã hội.
Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, bảo đảm khen thưởng kịp thời, đúng người, đúng việc, đúng thành tích, có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương. Tăng cường khen thưởng thông qua việc chủ động phát hiện các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Quan tâm khen thưởng cơ sở, tập thể nhỏ, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; tập thể, cá nhân trực tiếp công tác, lao động, chiến đấu, thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt, bí mật; cá nhân có nhiều đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, dũng cảm cứu người, cứu tài sản. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong công tác khen thưởng.
Nâng cao vai trò trách nhiệm của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng; đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của cụm, khối thi đua. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào công tác thi đua, khen thưởng, bảo đảm công khai, minh bạch và cải cách thủ tục hành chính. Bố trí, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức làm công tác thi đua, khen thưởng có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có kiến thức, kinh nghiệm, gắn bó với quần chúng và phong trào thi đua. Đồng thời, tiếp tục củng cố tổ chức, bộ máy ổn định, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng công tác tham mưu và hiệu quả tổ chức triển khai các phong trào thi đua, công tác khen thưởng trong phạm vi cả nước.
Chỉ thị cùng nêu rõ trách nhiệm cụ thể của Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban và cơ quan của Đảng ở trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội căn cứ chức năng, nhiệm vụ thực hiện công tác thi đua, khen thưởng và tổ chức phát động, triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước.
5. Một số kết quả nổi bật của chuyến thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Ấn Độ và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa dân chủ Sri Lanka của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Từ ngày 05 - 08/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Ấn Độ và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa dân chủ Sri Lanka. Đây là chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử, đúng thời điểm Việt Nam và Ấn Độ kỷ niệm 10 năm thiết lập Đối tác Chiến lược toàn diện và diễn ra chỉ một tháng sau khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được tín nhiệm bầu giữ cương vị mới. Với Sri Lanka, đây là chuyến thăm cấp cao nhất của lãnh đạo ta kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao.
Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, đạt ở mức cao các mục tiêu đề ra. Với Ấn Độ, hai nước đã nhất trí nâng quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường; với Sri Lanka là Đối tác Toàn diện, tạo khuôn khổ chính trị mới, tăng cường tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau.
Hai nước đã dành cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Đoàn sự đón tiếp nồng ấm, chu đáo, thân tình, trọng thị với nghi lễ đón tiếp ở mức cao nhất của một chuyến thăm cấp nhà nước và với nhiều biệt lệ. Các ban, bộ, ngành của Việt Nam cũng có chương trình làm việc phong phú với các đối tác tương ứng. Hơn 50 văn kiện đạt được ở Ấn Độ và 11 văn kiện ở Sri Lanka đã thể hiện nỗ lực rất cao của Việt Nam và hai nước; góp phần tạo động lực phát triển quan trọng cho quan hệ song phương. Lãnh đạo Việt Nam và hai nước cũng đã trao đổi các biện pháp đẩy mạnh quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng cầm quyền, quan hệ quốc hội, đối ngoại nhân dân.
Một trong những điểm nhấn quan trọng của chuyến thăm chính là ý nghĩa chính trị sâu sắc, thể hiện sự coi trọng đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta đối với quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện với Ấn Độ và quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp với Sri Lanka và qua đó là sự coi trọng của Việt Nam với khu vực Nam Á. Các Nhà lãnh đạo cấp cao và nhân dân hai nước đánh giá cao thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, vai trò, vị thế của Việt Nam, hết sức trân trọng, dành những tình cảm nồng ấm đối với đất nước Việt Nam - nguồn cảm hứng của khu vực và cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Chuyến thăm đã tạo đột phá chiến lược, tạo điều kiện cho những bước chuyển về chất trong định hướng phát triển quan hệ với Ấn Độ và Sri Lanka. Với Ấn Độ, hai bên đã thống nhất nâng tầm hợp tác trên nền tảng phương châm “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất”, kết tinh của mức độ tin cậy chính trị cao và sự tương đồng về lợi ích chiến lược giữa hai bên. Với Sri Lanka, việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Toàn diện phản ánh tăng cường tin cậy và mở rộng hợp tác thực chất trong bối cảnh mới, yêu cầu mới.
Các định hướng chiến lược tháo gỡ điểm nghẽn, mở rộng thị trường, tăng cường kết nối kinh tế, đầu tư, hạ tầng, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuỗi cung ứng được các Nhà Lãnh đạo đặc biệt quan tâm với những đề xuất hợp tác cụ thể; khẳng định mở rộng hơn, làm sâu sắc hơn trụ cột quốc phòng - an ninh, xác định kinh tế, khoa học - công nghệ là những trụ cột mới với các chương trình, kế hoạch, hoạt động thiết thực, tăng cường hợp tác giáo dục - đào tạo. Đối với Ấn Độ, những kết quả của chuyến thăm đã đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới, mở ra tiềm năng hợp tác to lớn trong các lĩnh vực an ninh - quốc phòng, kinh tế - thương mại, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, văn hóa và giao lưu nhân dân, hứa hẹn đưa quan hệ hai nước sang “kỷ nguyên vàng”. Đối với Sri Lanka, hai bên cam kết tiếp tục củng cố, tăng cường hợp tác, hữu nghị, xác lập tin cậy chính trị ở mức cao, mở rộng quy mô và mức độ hợp tác theo hướng toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực; nhất trí tăng kim ngạch thương mại song phương lên gấp 5 lần mức hiện tại trong thời gian tới. Những bước tiến lớn trong ổn định kinh tế của Sri Lanka đã mở ra cơ hội mới về thương mại, hợp tác về khoáng sản, chế tạo, cảng biển và nhiều lĩnh vực khác.
Trong tình hình thế giới nhiều biến động, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường phối hợp chặt chẽ ủng hộ lẫn nhau trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương.
Chuyến thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Ấn Độ và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa dân chủ Sri Lanka của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đạt được những kết quả toàn diện, vừa mang ý nghĩa chiến lược lâu dài, vừa tạo chuyển biến thực chất trong hợp tác, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam tại khu vực Nam Á và trên trường quốc tế, đồng thời mở ra giai đoạn phát triển mới, sâu sắc, hiệu quả, toàn diện hơn cho quan hệ Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka.
6. Kết quả chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae
Từ ngày 01 - 03/5/2026, nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae thăm chính thức Việt Nam.
Trong thời gian thăm chính thức Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Thủ tướng Nhật Bản; Thủ tướng Lê Minh Hưng đón, hội đàm và cùng Thủ tướng Nhật Bản Takaichi gặp gỡ báo chí để thông tin về kết quả hội đàm; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae. Nhân dịp này, các bộ, ngành, cơ quan, địa phương hai nước trao 6 văn kiện hợp tác giữa hai nước.
Tại các buổi tiếp, hội đàm và hội kiến, Lãnh đạo Việt Nam hoan nghênh chuyến thăm của Thủ tướng Takaichi Sanae cùng Đoàn đại biểu cấp cao của Chính phủ Nhật Bản diễn ra vào thời điểm quan trọng, có ý nghĩa khi cả hai nước đều có Ban Lãnh đạo mới, đang nỗ lực thực hiện các mục phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Bày tỏ vui mừng trước đà phát triển tốt đẹp của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản sau hơn 2 năm nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, Lãnh đạo Việt Nam đánh giá cao kết quả hợp tác thực chất, toàn diện giữa hai bên với sự tin cậy chính trị cao, phối hợp triển khai hiệu quả và thiết lập nhiều cơ chế trao đổi, đối thoại về kinh tế, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, gia tăng gắn kết chặt chẽ về hợp tác kinh tế, nguồn nhân lực và đang mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới như: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thủ tướng Takaichi Sanae khẳng định ủng hộ công cuộc cải cách cũng như nỗ lực tự chủ kinh tế của Việt Nam, tin tưởng Việt Nam sẽ đạt nhiều thành tựu hơn nữa trong thời gian tới. Bày tỏ vui mừng trước sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ song phương Việt Nam - Nhật Bản, Thủ tướng Takaichi Sanae khẳng định Nhật Bản mong muốn hợp tác chặt chẽ cùng Việt Nam để triển khai Tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở; Nhật Bản ủng hộ và sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới, góp phần vào sự phát triển thịnh vượng của khu vực; phối hợp chặt chẽ đưa quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nhật Bản lên tầm cao mới.
Lãnh đạo hai nước nhất trí làm sâu sắc hơn hợp tác kinh tế là trụ cột chính của quan hệ thông qua hợp tác thương mại, đầu tư, ODA, góp phần bảo đảm vững chắc an ninh kinh tế, an ninh năng lượng và nông nghiệp bền vững; thống nhất các biện pháp nhằm sớm đưa đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đạt 5 tỷ USD/năm và kim ngạch thương mại song phương sớm đạt 60 tỷ USD vào năm 2030; trao đổi và nhất trí phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN, tiểu vùng Mekong,…
Trong khuôn khổ chuyến thăm, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đã thăm và có bài phát biểu chính sách quan trọng tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Tại đây, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đã gửi đi thông điệp mạnh mẽ về tương lai của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nhật Bản, đồng thời công bố những cập nhật quan trọng trong sáng kiến “Tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Nhật Bản.
Cũng trong dịp này, tối 02/5/2026, tại Hà Nội, Chính phủ hai nước Việt Nam và Nhật Bản đã tổ chức Lễ trao Huân chương Mặt trời mọc hạng nhất Đại thập tự của Nhật Bản tặng nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Dự buổi lễ có Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae.
Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Takaichi Sanae đã thành công tốt đẹp, là dấu mốc quan trọng, tạo những động lực mới và mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới giữa hai nước.
7. Một số kết quả Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48
Từ ngày 07 - 08/5/2026, tại Cebu (Philippines), đã diễn ra Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48, với chủ đề “Cùng chèo lái tương lai chung”. Hội nghị đã thành công tốt đẹp, đạt nhiều kết quả quan trọng và thực chất.
Các nhà Lãnh đạo ASEAN đã đạt được đồng thuận rất cao về nhiều biện pháp ứng phó toàn diện và bao trùm trên tất cả các trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội và bảo đảm an ninh, an toàn cho người dân ASEAN.
Hội nghị đã thông qua Tuyên bố của các nhà Lãnh đạo ASEAN về ứng phó với khủng hoảng tại Trung Đông, trong đó, nhấn mạnh củng cố đoàn kết ASEAN và hỗ trợ lẫn nhau giữa các nước thành viên; tăng cường phối hợp liên ngành, cảnh báo sớm và xây dựng cơ chế liên lạc khẩn cấp; đẩy nhanh triển khai hiệu quả các thỏa thuận, kế hoạch hợp tác về dầu khí, kết nối năng lượng lương thực, cũng như tăng cường hợp tác lãnh sự và hỗ trợ công dân, đặc biệt là lao động di cư ở khu vực bị ảnh hưởng.
Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh, ASEAN cần thực hiện nghiêm túc các kế hoạch đã đặt ra để đạt được các mục tiêu dài hạn theo Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045. Trong đó, hợp tác chính trị - an ninh là trọng tâm hàng đầu để bảo đảm an ninh, hòa bình và ổn định khu vực, thông qua củng cố đoàn kết, tin cậy chính trị và phát huy các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế và chủ nghĩa đa phương. ASEAN sẽ tiếp tục tập trung tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, triển khai Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN mới nâng cấp, hoàn tất đàm phán Hiệp định khung về kinh tế số ASEAN, tận dụng các động lực phát triển mới, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường kết nối hạ tầng, đa dạng hóa thị trường, mở rộng kết nối kinh tế thông qua các FTA+ với các đối tác. Bên cạnh đó, cần bảo đảm người dân thực sự là trung tâm của Cộng đồng ASEAN, ưu tiên nguồn lực cho an sinh và phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực cho người dân, nhất là thanh niên, để đáp ứng các yêu cầu của thời đại số và trí tuệ nhân tạo.
Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dẫn đầu đã tham dự và có nhiều đóng góp quan trọng vào thành công của Hội nghị, khẳng định đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIV tiếp tục coi trọng ASEAN và cam kết đóng góp chủ động, tích cực, trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồngASEAN đoàn kết, vững mạnh.
Phát biểu tại Phiên họp toàn thể, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cho rằng cần tập trung nguồn lực nhằm bảo đảm các nhu cầu an ninh thiết yếu bao gồm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh con người. Thủ tướng khẳng định Việt Nam sẵn sàng hỗ trợ lương thực trong các tình huống khẩn cấp, chia sẻ kinh nghiệm liên quan với các quốc gia thành viên ASEAN và sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các quốc gia thành viên ASEAN trong công tác hỗ trợ công dân. Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị thúc đẩy hợp tác thực chất nhằm tăng cường năng lực nội tại và khả năng chống chịu của ASEAN; đồng thời kêu gọi tăng cường phối hợp và đoàn kết ASEAN nhằm bảo đảm các cam kết khu vực được triển khai liên tục, đồng bộ và hiệu quả.
Tại Phiên họp hẹp của lãnh đạo các nước ASEAN với chủ đề thảo luận chính là ứng phó với khủng hoảng năng lượng phát sinh từ căng thẳng địa chính trị và bài học kinh nghiệm dành cho ASEAN, Thủ tướng Lê Minh Hưng chia sẻ đánh giá của các nhà lãnh đạo ASEAN và nhấn mạnh trong môi trường chiến lược ngày càng bất an, bất định, ASEAN không thể chỉ thích ứng với thay đổi mà phải đi trước, dẫn dắt và định hình thay đổi. Theo đó, Thủ tướng nêu các đề xuất trọng tâm cho ASEAN trong bối cảnh mới: (1) ASEAN cần đi tiên phong giữ vững luật lệ, củng cố niềm tin trong quan hệ quốc tế, thông qua việc kiên trì đề cao chủ nghĩa đa phương và thượng tôn luật pháp quốc tế; (2) Trong một thế giới đầy biến động, ASEAN cần đón đầu thay đổi bằng cách chủ động phòng ngừa và quản lý khủng hoảng; (3) Nâng cao tự chủ chiến lược và phát huy vai trò trung tâm là lựa chọn duy nhất giúp ASEAN đứng vững và vượt qua những thách thức đa chiều hiện nay,…
Những đề xuất của Việt Nam tại Hội nghị được các quốc gia thành viên ASEAN hoan nghênh, đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Trên cơ sở đề xuất của Việt Nam và các nước, ASEAN đã thông qua Tuyên bố Lãnh đạo ASEAN về các Hành động ưu tiên củng cố tự cường khu vực ứng phó với các hệ lụy từ tình hình Trung Đông.
Nhân dịp dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã có các cuộc gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc với các nhà Lãnh đạo các nước ASEAN, Tổng Thư ký ASEAN Kao Kim Hourn và Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Châu Á Masato Kanda,…
Chuyến tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và đoàn Việt Nam đã đạt kết quả quan trọng, góp phần lan tỏa thông điệp về một Việt Nam năng động, đổi mới, hội nhập và vươn mình mạnh mẽ, một thành viên tích cực, có trách nhiệm, nhiều đóng góp của cộng đồng ASEAN, đồng thời mở ra những tiền đề và xung lực thuận lợi đưa quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác ngày càng phát triển đi vào chiều sâu trong thời gian tới.
8. Một số sự kiện thế giới đáng chú ý
- Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa: Trước việc vừa qua, Trung Quốc ban bố lệnh cấm đánh bắt cá từ ngày 01/5/2026 đến ngày 16/8/2026 tại một số khu vực ở Biển Đông, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: "Lập trường của Việt Nam đối với lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc ở Biển Đông là nhất quán, đã được khẳng định rõ ràng trong những năm qua. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa phù hợp với luật pháp quốc tế, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển được xác lập phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), tôn trọng quyền của ngư dân Việt Nam hoạt động hợp pháp trong các vùng biển của Việt Nam và các vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, không có các hành động làm phức tạp tình hình, đóng góp cho việc duy trì hòa bình, ổn định, trật tự trên biển dựa trên luật lệ ở Biển Đông".
- Cảnh giác nguy cơ từ virus Hanta trên du thuyền MV Hondius: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gần đây xác nhận 6 trường hợp nhiễm virus Hanta trong ổ dịch trên du thuyền MV Hondius treo cờ Hà Lan, trong đó có 3 ca tử vong. Đáng chú ý, các ca bệnh đều liên quan đến biến thể Andes - chủng virus Hanta hiếm hoi có khả năng lây truyền từ người sang người khi tiếp xúc gần và kéo dài.
Theo WHO, nguy cơ lây lan ra cộng đồng toàn cầu hiện ở mức thấp, song sự việc tiếp tục làm dấy lên lo ngại về các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có nguồn gốc từ động vật. Virus Hanta tồn tại chủ yếu ở các loài gặm nhấm và lây sang người qua bụi, thực phẩm hoặc môi trường nhiễm chất thải của chuột. Một số chủng có thể gây hội chứng phổi cấp tính với tỷ lệ tử vong rất cao, riêng đợt bùng phát trên MV Hondius hiện ghi nhận tỷ lệ tử vong khoảng 38%.
Giới chuyên gia nhận định khả năng hình thành ổ dịch lớn trong cộng đồng là không cao, bởi virus này không lây lan mạnh qua đường hô hấp như cúm hay Covid-19. Tuy nhiên, trong điều kiện không gian kín, mật độ tiếp xúc lớn như trên tàu biển, nguy cơ lây nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ.
Trước diễn biến mới, nhiều quốc gia đã tăng cường các biện pháp giám sát dịch tễ, kiểm soát chuột và vệ sinh môi trường. Đến nay, chưa có vaccine hay thuốc điều trị đặc hiệu đối với virus Hanta, việc điều trị chủ yếu dựa vào hồi sức tích cực và hỗ trợ hô hấp.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế ngăn chặn tội phạm buôn bán thuốc giả: Tổ chức Cảnh sát hình sự Quốc tế (Interpol) ngày 07/5/2026 cho biết đã phối hợp triển khai chiến dịch truy quét toàn cầu nhằm vào hoạt động buôn bán dược phẩm bất hợp pháp tại 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, triệt phá 66 nhóm tội phạm và bắt giữ 269 đối tượng.
Trong chiến dịch kéo dài từ ngày 10 - 23/3/2026, các cơ quan thực thi pháp luật đã mở 392 cuộc điều tra, thực hiện 158 lệnh khám xét nhằm vào các mạng lưới phân phối sản phẩm y tế giả mạo, chưa được cấp phép hoặc kém chất lượng. Kết quả, hơn 6,4 triệu liều thuốc giả và thuốc chưa được cấp phép, trị giá khoảng 15,5 triệu USD, đã bị thu giữ. Các sản phẩm bị thu giữ nhiều gồm thuốc điều trị rối loạn cương dương, thuốc an thần, giảm đau, kháng sinh và sản phẩm hỗ trợ cai thuốc lá.
Ngoài ra, khoảng 5.700 website, trang mạng xã hội, kênh và bot tự động liên quan đến hoạt động quảng bá, buôn bán dược phẩm bất hợp pháp đã bị vô hiệu hóa. Interpol cảnh báo xu hướng gia tăng mạnh việc buôn bán thuốc chống ký sinh trùng như Ivermectin và Fenbendazol dưới danh nghĩa hỗ trợ điều trị ung thư, bất chấp cảnh báo từ các cơ quan y tế.
Tổng Thư ký Interpol Valdecy Urquiza nhấn mạnh thuốc giả không chỉ là hành vi lừa đảo mà còn đe dọa trực tiếp đến tính mạng người sử dụng. Theo ông, các nhóm tội phạm đang lợi dụng chợ trực tuyến và chuỗi cung ứng phi chính thức để tiếp cận người bệnh có nhu cầu tìm kiếm phương pháp điều trị nhanh, giá rẻ.
III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT
Nghị định số 85/2026/NĐ-CP ngày 25/3/2026 của Chính phủ về bảo hiểm hưu trí bổ sung. Nghị định gồm 45 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2026 và thay thế Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:
Nghị định quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 127 Luật Bảo hiểm xã hội, gồm: tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, thiết lập, quản lý và đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; doanh nghiệp quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Nghị định này không điều chỉnh các nội dung sau: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; Hoạt động cung cấp sản phẩm bảo hiểm hưu trí của doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn; Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán của các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Về quy định tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, Nghị định quy định: Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung là người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.
Nghị định nhấn mạnh, việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.
Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.
Căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung và thực hiện đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.
Điều kiện để người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp phải được nêu cụ thể tại văn bản thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trường hợp người sử dụng lao động có điều kiện về thời gian làm việc tối thiểu đối với người lao động thì không quá 5 năm.
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện nêu trên, người lao động cũng được hưởng quyền lợi khi thuộc một trong các trường hợp sau: bị tử vong; đang mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS); có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc là người khuyết tật đặc biệt nặng; người lao động là công dân nước ngoài không tiếp tục cư trú tại Việt Nam hoặc giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy