Thông tin, tư liệu phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 3 năm 2026

I. TIN THÀNH PHỐ

1. Nghị quyết của Ban Chấp hành đảng bộ thành phố về chuyển đổi xanh thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Ban Chấp hành đảng bộ thành phố khoá I ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TU, ngày 29/01/2026 về chuyển đổi xanh thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo Nghị quyết, chuyển đổi xanh được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn thành phố; trong đó, lấy kinh tế tuần hoàn làm động lực chuyển đổi xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để thúc đẩy chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Phát triển đồng bộ, phát huy lợi thế đặc thù của các lĩnh vực; lấy phát triển cảng xanh, công nghiệp xanh, đô thị xanh, du lịch sinh thái bền vững (trọng tâm là đảo Cát Bà) và nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao làm trụ cột, động lực then chốt, trong đó phát triển cảng xanh là đột phá chiến lược. Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng xanh, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thực hiện chuyển đổi xanh trên các địa bàn, lĩnh vực toàn thành phố, trong đó thực hiện toàn diện trên 07 lĩnh vực (giao thông vận tải, công nghiệp, năng lượng, xây dựng, nông nghiệp, du lịch, lối sống) và đảo Cát Bà. Xác định 02 lĩnh vực (giao thông vận tải, công nghiệp) và đảo Cát Bà làm trọng tâm, nền móng trong chuyển đổi xanh giai đoạn 2026 - 2030, lấy phát triển cảng xanh là đột phá chiến lược, tạo động lực cho quá trình chuyển đổi xanh toàn diện. 

Đến năm 2030, đạt mức giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 43,5% so với năm 2020; chỉ số Xanh cấp tỉnh (PGI) nằm trong nhóm 05 địa phương dẫn đầu cả nước. Phấn đấu đến năm 2045, đạt và duy trì mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero); giữ vững chỉ số PGI nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước.

Nghị quyết xác định các mục tiêu cụ thể trong giai đoạn 2026 – 2030, như 100% các cảng biển đạt tiêu chí cảng xanh; xây dựng Hải Phòng trở thành hình mẫu về cảng xanh, cảng thông minh; chuyển đổi thành công 02 Khu công nghiệp sinh thái (Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền và Khu công nghiệp Đình Vũ) làm mô hình điểm để nhân rộng khu công nghiệp sinh thái; phấn đấu 100% cụm công nghiệp (có chủ đầu tư hạ tầng) có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

Phấn đấu 100% xe buýt và xe taxi thay thế, đầu tư mới, 10-15% xe vận tải hành khách công cộng, tối thiểu 35% xe môtô, xe gắn máy tại khu vực nội thị thành phố (Gồm 05 phường: Hồng Bàng, Ngô Quyền, Gia Viên, Lê Chân, An Biên), tối thiểu 50% phương tiện giao thông cá nhân và 100% xe vận tải du lịch trên đảo Cát Bà sử dụng điện, năng lượng xanh; 100% xe công thay thế, đầu tư mới (trừ xe chuyên dụng) sử dụng điện, năng lượng xanh, xe thân thiện với môi trường. Xây dựng Cát Bà thành “đảo xanh”, đưa đảo Cát Bà trở thành trung tâm du lịch quốc tế.

Diện tích sản xuất trồng trọt theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, Halal và các tiêu chuẩn tiên tiến khác đạt tỷ lệ từ 20% trở lên; diện tích nuôi trồng thủy sản theo hình thức thâm canh, bán thâm canh và ứng dụng công nghệ cao đạt tỷ lệ từ 75% trở lên. 100% các khu, điểm du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch và dịch vụ du lịch khác ven biển trên địa bàn thành phố không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và túi nilon khó phân hủy.

Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị, nông thôn bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 100% vào năm 2030; phấn đấu có 02 nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại; tỷ lệ mua sắm công xanh so với tổng mua sắm công đạt tối thiểu 35%.

Tầm nhìn đến năm 2050 Hải Phòng trở thành thành phố cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống tầm cỡ châu Á; là trung tâm logistics xanh và công nghiệp công nghệ cao thông minh tầm quốc tế. Thành phố phấn đấu đạt và duy trì mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2045; giữ vững chỉ số Xanh cấp tỉnh trong nhóm dẫn đầu cả nước, xây dựng đảo Cát Bà thành hình mẫu quốc gia về du lịch sinh thái không phát thải các-bon, bảo đảm chất lượng sống cao và xây dựng xã hội phát triển bền vững, văn minh.

Nghị quyết đề ra 7 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm: chuyển đổi xanh giao thông và cảng xanh; chuyển đổi xanh công nghiệp; chuyển đổi xanh năng lượng; chuyển đổi xanh xây dựng; chuyển đổi xanh nông nghiệp; chuyển đổi xanh du lịch, trọng tâm là đảo Cát Bà; chuyển đổi xanh lối sống.

Việc ban hành Nghị quyết về chuyển đổi xanh thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ tạo khuôn khổ chung, thống nhất để điều phối, tập trung nguồn lực cho chuyển đổi xanh trên phạm vi toàn thành phố sau hợp nhất; đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) trong các hiệp định thương mại và thu hút dòng vốn đầu tư xanh; giải quyết các thách thức môi trường liên vùng, nâng cao chất lượng sống của người dân và phát triển bền vững.

2. Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố năm 2026

Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chương trình hành động số 14-CTr/TU, ngày 28/01/2026 về thực hiện Kết luận số 199-KL/TW, ngày 10/10/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Nghị quyết số 244/2025/QH15 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố năm 2026.

Chương trình hành động được ban hành nhằm quán triệt sâu sắc Kết luận số 199-KL/TW và Nghị quyết số 244/2025/QH15, tạo sự đồng thuận cao trong nhận thức và hành động trong toàn Đảng bộ thành phố về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội thành phố trong năm 2026. Đồng thời, cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phù hợp với đặc điểm của thành phố Hải Phòng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo để phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2026 đã đề ra.

Mục tiêu cụ thể được đề ra là hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã được giao tại Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố; các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 được giao tại Nghị quyết số 74/NQ-HĐND, ngày 11/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố, Kế hoạch số 05/KH-UBND, ngày 07/01/2026 của Uỷ ban nhân dân thành phố.

Chương trình hành động đề ra 22 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó nổi bật là tốc độ tăng trưởng GRDP (theo giá so sánh 2010) tăng khoảng 13% so với năm 2025; GRDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) đạt 7.944,5 USD/người (khoảng 201,6 triệu đồng/người); tỷ trọng đóng góp của kinh tế số trong GRDP đạt 31%; Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 194.935,654 tỷ đồng; trong đó thu nội địa đạt 103.166 tỷ đồng, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 84.200 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 52 tỷ USD; sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt 238 triệu tấn; thu hút khách du lịch đạt 16,08 triệu lượt người…

Để thực hiện được các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra, Chương trình hành động xác định 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu gồm: (1) Tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, duy trì 12 năm liên tiếp tăng trưởng 02 con số, tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách; (2) Tiếp tục tập trung thể chế hoá và triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố theo Nghị quyết số 226/2025/QH15, huy động mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển; (3) Tiếp tục tập trung triển khai các kết luận của Trung ương về sắp xếp, vận hành tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo mô hình mới bảo đảm thông suốt, đồng bộ; (4) Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững; (5) Tăng cường công tác quy hoạch và phát triển đô thị, nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược gắn với đẩy mạnh liên kết vùng; (6) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (7) Chú trọng phát triển văn hóa, xây dựng con người Hải Phòng phát triển toàn diện và có giá trị bản sắc riêng, bảo đảm an sinh xã hội; (8) Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; (9) Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế và liên kết vùng; (10) Chủ động hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát huy mạnh mẽ các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội, động lực, khí thế, khát vọng phát triển.

Ban Thường vụ Thành uỷ yêu cầu các đảng ủy trực thuộc Thành ủy tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền Kết luận số 199-KL/TW, Nghị quyết số 244/2025/QH15 và Chương trình hành động số 14-CTr/TU; căn cứ chức năng, nhiệm vụ để triển khai các nhiệm vụ được giao, đảm bảo hoàn thành mục tiêu đề ra.

3. Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành uỷ về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số giai đoạn 2026 - 2030 và tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững giai đoạn đến năm 2045

Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU, ngày 12/02/2026 về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số giai đoạn 2026 - 2030 và tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững giai đoạn đến năm 2045.

Chương trình hành động được ban hành nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội; các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số giai đoạn 2026 - 2030 phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố. Qua đó, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, làm cơ sở quan trọng để các cấp ủy, chính quyền, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, đề án, nhiệm vụ cụ thể; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng - an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của thành phố đến năm 2030 và tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững giai đoạn đến năm 2045.

Chương trình hành động số 16-CTr/TU đề ra 09 Chương trình cụ thể gồm: (1) Chương trình thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn thành phố Hải Phòng; (2) Chương trình phát triển kinh tế tư nhân; (3) Chương trình thực hiện đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; (4) Chương trình thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; (5) Chương trình thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; (6) Chương trình thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân; (7) Chương trình thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; (8) Chương trình thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước; (9) Chương trình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

Chương trình hành động số 16-CTr/TU cũng đề ra 04 Đề án gồm: (1) Đề án Thành lập Khu kinh tế chuyên biệt; (2) Đề án thành lập Khu kinh tế phía Bắc Hải Phòng; (3) Đề án Xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trở thành trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại, gắn với cảng biển quốc tế kết nối với các tuyến hành lang, vành đai kinh tế; (4) Đề án Nâng cao năng lực hệ thống y tế thành phố Hải Phòng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.

Để triển khai thực hiện, Chương trình hành động số 16-CTr/TU đề ra 10 nhiệm vụ giải pháp trọng tâm, nổi bật như nhiệm vụ “Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững” với mục tiêu tăng trưởng GRDP giai đoạn 2026 - 2030 đạt bình quân 13%/năm trở lên, phấn đấu đạt 14%/năm; trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 15,2%/năm; dịch vụ tăng 10,9%/năm; nông, lâm và thủy sản tăng 2%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8%/năm. GRDP bình quân đầu người năm 2030 (giá hiện hành) đạt 11.247 USD/người.

Nhiệm vụ “Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển các thành phần kinh tế” với mục tiêu tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn giai đoạn 2026 - 2030 đạt 2,4 triệu tỷ đồng. Đến năm 2030, có khoảng 87.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn; số doanh nghiệp thành lập mới hằng năm khoảng 9.200 doanh nghiệp. Chỉ số chuyển đổi số (DTI), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số Cải cách hành chính (PAR Index), Chỉ số chuyển đổi xanh (PGI) hằng năm thuộc top 5 địa phương dẫn đầu cả nước, phấn đấu trong top 3.

Nhiệm vụ “Tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực” với mục tiêu thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến năm 2030 đạt 245.500 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 122.000 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn giai đoạn 2026 - 2030 đạt 2,4 triệu tỷ đồng.

Nhiệm vụ “Tăng cường công tác quy hoạch, phát triển đô thị, nông thôn” với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 có 80% số xã (tương ứng 55/67 xã) đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 50% số xã (tương ứng 34/67 xã) đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

Ngoài ra còn có các nhiệm vụ giải pháp trọng tâm khác như: “Phát triển kết cấu hạ tầng gắn với đẩy mạnh liên kết vùng”; “Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”; “Phát triển nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số”; “Phát triển văn hóa, xây dựng con người Hải Phòng phát triển toàn diện và có giá trị bản sắc riêng; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội”; “Ưu tiên nguồn lực cho phát triển y tế, giáo dục và đào tạo chất lượng cao”; “Tăng cường quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”.

Ban Thường vụ Thành uỷ yêu cầu các cấp ủy đảng, tổ chức đảng căn cứ chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình hành động với những giải pháp cụ thể, đồng bộ, toàn diện, sát thực tiễn để triển khai các nhiệm vụ được giao, đảm bảo hoàn thành mục tiêu đề ra.

4. Nghị quyết của Ban Thường vụ Thành uỷ về thay đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa quy mô lớn giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU, ngày 29/01/2026 về về nhiệm vụ, giải pháp tổng thể thay đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa quy mô lớn trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết đề ra quan điểm xác định nông nghiệp tiếp tục là ngành kinh tế quan trọng, trụ đỡ của nền kinh tế thành phố. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại kinh tế theo hướng hàng hóa quy mô lớn, hiện đại, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế nông thôn, phát huy tối đa được tiềm năng, lợi thế của thành phố.

Thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp gắn với thị trường và xuất khẩu; từ chiều rộng sang chiều sâu; từ sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với du lịch; từ hộ sản xuất sang các loại hình kinh tế nông nghiệp phù hợp: kinh tế tư nhân, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, doanh nghiệp. Phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, tích hợp đa giá trị theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh...

Thay đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa quy mô lớn là trách nhiệm, nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đề cao vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện xã hội và vận động Nhân dân tích cực tham gia phát triển nông nghiệp.

Nghị quyết đề ra 9 chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 gồm: (1) Tăng trưởng GRDP nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản bình quân đạt từ 2,50%/năm trở lên; (2) Giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản trên 01 ha đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản đạt từ 230 triệu đồng trở lên; (3) Diện tích đất được tích tụ, tập trung cho sản xuất trồng trọt hàng hóa quy mô lớn đạt tỷ lệ từ 15% trở lên; (4) Diện tích nuôi trồng thủy sản theo hình thức thâm canh, bán thâm canh và ứng dụng công nghệ cao đạt tỷ lệ từ 75% trở lên; (5) Đàn vật nuôi trong chăn nuôi quy mô trang trại đạt tỷ lệ từ 65% trở lên; (6) Diện tích sản xuất trồng trọt theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, hala và các tiêu chuẩn tiên tiến khác đạt tỷ lệ từ 20% trở lên; (7) Sản phẩm nông nghiệp, thủy sản qua chế biến đạt tỷ lệ từ 15% trở lên; (8) Có tối thiểu 1.000 sản phẩm OCOP được công nhận đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có từ 30 sản phẩm OCOP trở lên đạt 5 sao; (9) Có từ 120 doanh nghiệp và 600 hợp tác xã trở lên tham gia vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn.

Nghị quyết đề ra 13 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như thu hút đầu tư xây dựng khu sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, hải sản tập trung quy mô lớn, tổ chức các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn. 

Phát triển cơ sở sơ chế, chế biến và bảo quản nông sản đáp ứng nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Khuyến khích hình thành và phát triển các “Khu chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung” theo quy định, phát triển hệ thống các kho chứa, cơ sở sấy và bảo quản nông sản.

Phát triển thị trường nông sản bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường các nước. Phát triển mạnh thương mại điện tử trong lĩnh vực nông sản; khuyến khích doanh nghiệp và cơ sở sản xuất tham gia các sàn thương mại điện tử để quảng bá, tiêu thụ sản phẩm trong nước và quốc tế. 

Phát triển nông nghiệp gắn với du lịch. Hình thành và phát triển hệ thống điểm du lịch gắn với nông nghiệp, ưu tiên phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm trong nông nghiệp. Phát triển hàng hóa nông nghiệp, sản phẩm OCOP phục vụ tiêu dùng du lịch.

Khai thác hiệu quả quỹ đất nông nghiệp, đẩy mạnh tập trung, tích tụ đất nông nghiệp cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn theo quy định. Cấp ủy, chính quyền các địa phương phải đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt công tác này; làm tốt công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia và hướng dẫn, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện, đồng thời có cơ chế bảo đảm quyền lợi cho các bên liên quan đến tập trung, tích tụ đất nông nghiệp.

Thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung giai đoạn 2026 - 2030. Tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng khu, vùng sản xuất hàng hóa tập trung (giao thông, điện, cấp và thoát nước, xử lý chất thải và các công trình dùng chung khác)…

Tập trung phát triển sản xuất tuần hoàn; sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, GAP, hala; giảm phát thải khí nhà kính; tăng cường áp dụng để nâng cao tỷ lệ cơ giới hóa. Quản lý cơ sở dữ liệu, cấp mã số vùng nuôi trồng, truy xuất nguồn gốc, chế biến và bảo quản nông sản đáp ứng các yêu cầu của thị trường. Ưu tiên các doanh nghiệp lớn đầu tư vào nông nghiệp; hình thành các chuỗi liên kết giá trị từ sản xuất, chế biến sâu đến thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế; xây dựng mô hình nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm, du lịch nông thôn. Đổi mới và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ sản phẩm, phát triển nguồn nhân lực. Chủ động hợp tác trong nước và hội nhập quốc tế…

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội nhận thức đúng và đầy đủ tinh thần của Nghị quyết. Quá trình thực hiện phải thống nhất và tập trung cao sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động, thuyết phục, làm cho Nhân dân hiểu rõ việc chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, từ sản xuất nhỏ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Đảng ủy các xã, phường, đặc khu có sản xuất nông nghiệp ban hành chương trình hành động cụ thể để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết trên địa bàn.

5. Công bố danh sách chính thức người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại thành phố Hải Phòng và đại biểu HĐND thành phố khoá XVII, nhiệm kỳ 2026 – 2031

- Ngày 15/02/2026, Ủy ban bầu cử thành phố công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại thành phố Hải Phòng theo Nghị quyết 151/NQHĐBCQG ngày 14/02/2026 của Hội đồng bầu cử Quốc gia gồm 33 người. Trong đó có 09 người được Trung ương giới thiệu ứng cử tại Hải Phòng, 24 người đang cư trú và làm việc tại thành phố Hải Phòng đủ tiêu chuẩn được địa phương giới thiệu. Trong tổng số 33 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại thành phố Hải Phòng, số người ứng cử là phụ nữ được thành phố Hải Phòng giới thiệu là 12 người, chiếm 36,36%; 05 người ứng cử là người trẻ tuổi (dưới 40 tuổi), chiếm 15,15%; ứng cử viên trẻ tuổi nhất sinh năm 1998; 02 người ứng cử đại biểu là người ngoài Đảng; có 02 người tái cử.

Trong 24 người đang cư trú và làm việc tại thành phố đủ tiêu chuẩn và được địa phương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XVI có 01 đồng chí lãnh đạo thành phố là đồng chí Lê Ngọc Châu, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND thành phố. Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố, Ban Tổ chức Thành uỷ, Sở Tài chính và Công an thành phố mỗi đơn vị có 02 người ứng cử. Khối văn hoá, thể thao, du lịch có 05 người ứng cử; trường Đại học Hải Phòng có 03 người ứng cử. Kho bạc Nhà nước khu vực III, Chi cục Hải quan khu vực III, Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp (cơ sở An Đồng), Bệnh viện Quốc tế sản nhi Hải Phòng (Tổng Công ty Hàng Kênh), Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng, Công ty Cổ phần lai dắt và vận tải Cảng Hải Phòng mỗi đơn vị có 01 người ứng cử.

- Ngày 15/02/2026, Ủy ban bầu cử thành phố ban hành Nghị quyết số 03/NQ-UBBC về việc lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031 theo từng đơn vị bầu cử.

Theo đó, Ủy ban bầu cử thành phố quyết nghị lập và công bố danh sách chính thức 139 người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tại 18 đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố.

Theo nghị quyết, đồng chí Lê Ngọc Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng ủy UBND thành phố, Chủ tịch UBND thành phố ứng cử tại đơn vị bầu cử số 9 gồm 6 phường Hải An, Đông Hải, Đồ Sơn, Nam Đồ Sơn, Dương Kinh, Hưng Đạo và 2 đặc khu Cát Hải, Bạch Long Vĩ.

Đồng chí Đỗ Văn Hiến (tức Đỗ Mạnh Hiến), Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng thành phố ứng cử đại đơn vị bầu cử số 6 gồm 3 phường An Dương, An Hải, An Phong và 2 xã An Lão, An Trường.

Đồng chí Lê Văn Hiệu, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND thành phố ứng cử tại đơn vị bầu cử số 10 gồm 5 phường Lê Thanh Nghị, Thành Đông, Hải Dương, Nam Đồng, Tân Hưng.

Đồng chí Phạm Văn Lập, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố ứng cử tại đơn vị bầu cử số 8 gồm 7 xã Vĩnh Bảo, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Am, Vĩnh Hải, Vĩnh Hòa, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Thuận.

Cử tri sẽ bầu 85 đại biểu trong số 139 người ứng cử đại biểu HĐND thành phố nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trong số 139 người ứng cử đại biểu HĐND thành phố nhiệm kỳ 2026-2031 có 61 người ứng cử là nữ, chiếm 43,88%; 27 người ứng cử đại biểu là người trẻ tuổi (dưới 40 tuổi), chiếm 19,42%; 08 người ngoài Đảng, chiếm 5,76%; 52 người tái cử; 01 người ứng cử là người dân tộc thiểu số, chiếm 0,7%; 03 người ứng cử là người có tôn giáo, chiếm 2,16%.

 

II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI

1. Một số nội dung trọng tâm cần tập trung tuyên truyền trước, trong và sau bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ diễn ra vào ngày 15/3/2026. Đây là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, được tổ chức trong bối cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa thành công tốt đẹp, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội trước, trong và sau bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự là Ngày hội của toàn dân, cần tập trung tuyên truyền một số nội dung trọng tâm sau:

(1). Trước bầu cử

- Tập trung tuyên truyền sâu rộng mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; làm rõ bối cảnh, thời điểm tổ chức bầu cử gắn với thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, việc tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước sau 40 năm đổi mới.

- Tuyên truyền, quán triệt đầy đủ, sâu sắc chủ trương, quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bầu cử; các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Hội đồng Bầu cử Quốc gia và các cơ quan có thẩm quyền; nhấn mạnh trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử, nhất là công tác nhân sự.

- Tuyên truyền về tiêu chuẩn, cơ cấu, số lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; làm rõ yêu cầu lựa chọn, giới thiệu những người tiêu biểu, đủ tiêu chuẩn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, năng lực và uy tín; bảo đảm hài hòa giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, giữa kế thừa, ổn định và đổi mới, phát triển; kiên quyết không để những người không đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia ứng cử.

(2). Trong thời gian bầu cử

- Đẩy mạnh tuyên truyền quá trình tổ chức, triển khai cuộc bầu cử; phản ánh kịp thời, đầy đủ các bước, các khâu theo đúng quy định của pháp luật; biểu dương những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

- Tập trung tuyên truyền không khí dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật của Ngày bầu cử; ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác của cử tri trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; khẳng định cuộc bầu cử thực sự là Ngày hội của toàn dân.

- Tuyên truyền vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tham gia tổ chức bầu cử; đồng thời chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, lợi dụng bầu cử để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

(3). Sau bầu cử

- Tập trung tuyên truyền kết quả và ý nghĩa thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; khẳng định tinh thần đoàn kết, thống nhất, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong tổ chức và tham gia bầu cử.

- Tiếp tục tuyên truyền về vị trí, vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; những thành tựu, đóng góp của Quốc hội trong suốt 80 năm hình thành và phát triển; các hoạt động của Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp, tạo niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân vào bộ máy chính quyền và đội ngũ đại biểu mới được bầu.

- Tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả các thông tin sai trái, thù địch liên quan đến cuộc bầu cử; góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

2. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực năm 2026

Năm 2026 là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực yêu cầu công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTNLPTC) và hoạt động của Ban Chỉ đạo hai cấp cần bám sát và triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về PCTNLPTC theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tinh thần chung là “phải quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn” như chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTNLPTC vừa qua. Trong đó, cần tập trung làm tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Quán triệt, triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp về PCTNLPTC theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTNLPTC nhiệm kỳ XIII. Trọng tâm là hoàn thành rà soát, khắc phục ngay những sơ hở, bất cập, chồng chéo trong các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tập trung sửa đổi các dự án luật có liên quan đến PCTNLPTC; các quy định về tiêu chuẩn, định mức kinh tế, kỹ thuật không còn phù hợp với thực tiễn. Tổ chức thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và phòng, chống lãng phí; hoàn thiện Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả công tác PCTNLPTC áp dụng thống nhất trong cả nước. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết của Trung ương về PCTNLPTC trong giai đoạn mới.

Tập trung kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; không để tái diễn sai phạm cũ; không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thực hiện các dự án, công trình trọng điểm quốc gia và cấp địa phương. Phấn đấu trong năm 2026, kết thúc điều tra, xử lý 21 vụ án, 05 vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Khẩn trương hoàn thành việc rà soát, xử lý dứt điểm các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ thất thoát, lãng phí. Nhất là 10 dự án trọng điểm thường trực Ban Chỉ đạo giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xử lý. Tập trung điều tra, xử lý nghiêm một số vụ án, vụ việc điển hình về thất thoát, lãng phí để răn đe, cảnh báo, phòng ngừa vi phạm.

Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện đồng bộ các biện pháp để thu hồi tối đa tài sản ngay từ giai đoạn kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và trong giai đoạn thi hành án; khuyến khích người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc truy bắt các đối tượng bỏ trốn và thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài. Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiên trì xây dựng văn hóa liêm chính, công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số để PCTNLPTC. Tập trung xây dựng, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu bộ, ngành để phục vụ kiểm soát tài sản, thu nhập, thanh tra, kiểm tra, hướng đến thực hiện PCTNLPTC theo phương thức “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”.

Tăng cường kiểm soát quyền lực, PCTNLPTC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, sợ sai không dám làm; xử lý dứt điểm “tham nhũng vặt”. Tăng cường giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn; giám sát, kiểm soát quyền lực các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác PCTNLPTC trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Xử lý nghiêm minh, công khai các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực trong giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp.  Nâng cao hiệu quả giám sát, phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên, báo chí và nhân dân trong PCTNLPTC; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, hiệu quả phối hợp của các cơ quan chức năng PCTNLPTC.

3. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới

Ngày 10/01/2026, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới; trong đó yêu cầu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc tính cấp bách, lâu dài và tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; coi đây là một bộ phận quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Công tác tuyên truyền, giáo dục tập trung trang bị cho công nhân những nội dung cơ bản về chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, qua đó nâng cao bản lĩnh chính trị, giác ngộ giai cấp, ý thức chấp hành pháp luật, tác phong công nghiệp và văn hoá công nhân; đồng thời củng cố niềm tin của công nhân vào sự lãnh đạo của Đảng, bồi dưỡng lòng yêu nước, trách nhiệm công dân, nâng cao khả năng nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, các hành vi lợi dụng, kích động, gây mất ổn định quan hệ lao động và trật tự xã hội. Giáo dục pháp luật tập trung vào các quy định liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công nhân; nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật, ý thức tự bảo vệ quyền và lợi ích; khả năng tham gia đối thoại, thương lượng tập thể và giám sát việc thực thi pháp luật tại doanh nghiệp.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về lao động, công đoàn và các chính sách liên quan đến công nhân nhằm bảo đảm quyền được học tập, tiếp cận thông tin chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật gắn với nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công nhân như: Tiền lương, thời giờ làm việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn, vệ sinh lao động và đối thoại tại nơi làm việc. Tăng cường các giải pháp tập hợp, đoàn kết công nhân; triển khai đồng bộ các chính sách chăm lo, bảo đảm quyền lợi chính đáng, cải thiện điều kiện làm việc, thiết chế văn hoá và phúc lợi xã hội, tạo nền tảng để công nhân hưởng ứng tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục. Tổ chức công đoàn các cấp chủ động phối hợp, đối thoại, thương lượng với người sử dụng lao động để bố trí thời gian phù hợp, địa điểm thuận lợi và hỗ trợ các nguồn lực cần thiết cho công tác tuyên truyền, giáo dục. Kịp thời tổng kết, đánh giá, biểu dương và nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả.

Phát huy vai trò, sự phối hợp của các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đại diện người sử dụng lao động, người sử dụng lao động, cơ quan báo chí trong công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; trong đó, tổ chức công đoàn giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện tại cơ sở. Cấp ủy các cấp, nhất là cấp ủy tại doanh nghiệp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng nội dung, tạo điều kiện về tổ chức và nguồn lực cho tổ chức công đoàn triển khai hiệu quả. Nâng cao trách nhiệm của mỗi đảng viên, đoàn viên công đoàn với vai trò là tuyên truyền viên trong công tác tuyên truyền, vận động công nhân; chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân để kịp thời định hướng, tuyên truyền, giáo dục. Người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức công đoàn, tạo điều kiện về thời gian, địa điểm, nguồn lực cần thiết để công nhân tham gia các hoạt động học tập, tuyên truyền, giáo dục; đồng thời quan tâm, thúc đẩy xây dựng văn hoá doanh nghiệp, tạo môi trường làm việc văn minh.

Coi giáo dục chính trị, tư tưởng là cơ sở; giáo dục pháp luật, văn hoá ứng xử và tác phong công nghiệp là cơ bản; chú trọng giáo dục nghĩa vụ công dân, trách nhiệm với đồng nghiệp, với tổ chức công đoàn, doanh nghiệp và xã hội; khơi dậy tinh thần tự giác, kỷ luật lao động, gắn lợi ích của công nhân với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và đất nước. Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng, cập nhật thường xuyên nội dung các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục sáng tạo, có tính tương tác cao, lan toả rộng, ngắn gọn, trực quan, dễ tiếp cận, gắn với diễn biến thực tiễn quan hệ lao động và yêu cầu nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ. Kết hợp linh hoạt truyền thống và hiện đại, đa dạng hoá phương thức, hình thức tuyên truyền, giáo dục bảo đảm tính thiết thực, thuyết phục và phù hợp với nhận thức, điều kiện làm việc, điều kiện sống, nhu cầu, thói quen của từng đối tượng công nhân.

Quan tâm củng cố, kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn và có cơ chế, chính sách đãi ngộ, động viên, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên làm công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ cộng tác viên, công nhân nòng cốt tại cơ sở, nhất là các khu công nghiệp, khu chế xuất, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước trở thành lực lượng trực tiếp tuyên truyền, vận động và kịp thời nắm bắt tình hình trong công nhân ngay tại cơ sở.

4. Một số kết quả chủ yếu chuyến thăm cấp Nhà nước đến Lào và Vương quốc Campuchia của Tổng Bí thư Tô Lâm

Từ ngày 05 - 06/02/2026, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Lào và Campuchia. Đây là chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:

Cả Lào và Campuchia đều đón tiếp Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước ta với nghi thức ở mức cao nhất, hết sức trọng thị, nồng hậu. Tại Lào, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước có gần 40 hoạt động đối ngoại. Các cuộc hội đàm, hội kiến đều diễn ra trong không khí thẳng thắn, tin cậy, cởi mở, chân thành và đạt được nhiều kết quả thực chất, đúng với mục tiêu đề ra của các chuyến thăm. Tại Campuchia, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam đã đồng chủ trì cuộc gặp với Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia (CPP); Tổng Bí thư Tô Lâm cùng với Chủ tịch CPP Samdech Techo Hun Sen và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith đồng chủ trì cuộc gặp cấp cao ba Đảng.

Trong khuôn khổ chuyến thăm Lào, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có các cuộc trao đổi sâu rộng với lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước Lào. Trên nền tảng tin cậy chính trị cao và tình cảm gắn bó đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, lãnh đạo cấp cao hai bên đã đạt được nhiều đồng thuận chiến lược quan trọng:

Thứ nhất, hai bên tái khẳng định quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc gìn giữ, vun đắp và phát triển mối quan hệ Việt Nam - Lào, tài sản chung vô giá của hai dân tộc. Theo đó, lãnh đạo hai nước nhấn mạnh việc đồng hành, phối hợp triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Lãnh đạo Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục đồng hành, chia sẻ và hỗ trợ Lào với tinh thần trong sáng, thủy chung, trước sau như một, đặc biệt trong kỷ nguyên phát triển mới của cả hai dân tộc.

Thứ hai, chuyến thăm góp phần làm sâu sắc hơn và cụ thể hóa nội hàm "gắn kết chiến lược" được thiết lập giữa hai nước vào tháng 12/2025. Lãnh đạo hai Đảng, hai nước đã thống nhất từ nhận thức chung đến định hướng hành động để đưa nội hàm "gắn kết chiến lược" đi vào thực tiễn, thúc đẩy hai Đảng, hai nước gắn kết chặt chẽ hơn nữa về tầm nhìn chính trị và lợi ích phát triển.

Nhân dịp này Việt Nam và Lào trao nhiều văn kiện hợp tác về các lĩnh vực như giáo dục, tư pháp và kết nối giữa các địa phương.

Thứ ba, hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục củng cố vững chắc lòng tin chiến lược tuyệt đối, tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong bối cảnh tình hình khu vực và quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Hai bên khẳng định sẽ duy trì cơ chế trao đổi thường xuyên, kịp thời chia sẻ quan điểm, tham vấn chính sách và phối hợp xử lý các vấn đề cùng quan tâm.

Hai bên cũng thống nhất tập trung triển khai đồng bộ và hiệu quả các thỏa thuận đã đạt được; trong đó, hợp tác chính trị tiếp tục giữ vai trò định hướng và dẫn dắt; hợp tác quốc phòng - an ninh là trụ cột quan trọng bảo đảm hòa bình, ổn định; hợp tác kinh tế được xác định là lĩnh vực cần tạo chuyển biến và đột phá rõ nét, gắn với kết nối hạ tầng, thương mại, đầu tư và phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời, hai nước sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các cơ chế hợp tác khu vực, nhất là ASEAN và Tiểu vùng Mekong, qua đó đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của khu vực, đồng thời nâng cao vị thế và tiếng nói chung của hai nước trên trường quốc tế.

Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Campuchia của Tổng Bí thư Tô Lâm đã đạt được nhiều kết quả cụ thể, thực chất. Bên cạnh cuộc họp giữa Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam với Ban Thường vụ CPP, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có các cuộc hội kiến với những lãnh đạo cao nhất của Campuchia. Các lãnh đạo phía Campuchia đều bày tỏ sự coi trọng cao độ chuyến thăm của Tổng Bí thư, dành tình cảm, sự ngưỡng mộ và đánh giá rất cao thành tựu phát triển của Việt Nam và những quyết sách có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam. Cụ thể:

Thứ nhất, hai nhà lãnh đạo khẳng định coi trọng, ủng hộ lẫn nhau và dành ưu tiên hàng đầu cho quan hệ song phương Việt Nam - Campuchia, chia sẻ nhận thức chung về tầm quan trọng của việc giữ gìn quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống không thể tách rời và hỗ trợ nhau cùng phát triển ổn định trong bối cảnh tình hình khu vực và quốc tế đang có nhiều biến động phức tạp. Hai bên nhất trí củng cố vững chắc tin cậy chính trị, coi đây là nhân tố cốt lõi và xuyên suốt, giữ vai trò định hướng chiến lược cho toàn bộ quan hệ song phương.

Đặc biệt, hai bên đã đạt được những nhận thức chung quan trọng, thống nhất một số nguyên tắc lớn đặt nền móng vững chắc cho quản lý và giải quyết khác biệt, đó là giải quyết khác biệt thông qua đối thoại thẳng thắn và mang tính xây dựng, hợp tác chân thành và thiện chí, dựa trên sự tôn trọng lợi ích cốt lõi chính đáng của nhau, xây dựng trên cơ sở những điểm tương đồng, đồng thời giảm thiểu và thu hẹp các khác biệt; tăng cường chia sẻ thông tin, tham vấn kịp thời về các vấn đề cùng quan tâm, nhất là các vấn đề liên quan đến biên giới, cộng đồng, chương trình, dự án hợp tác; duy trì sự đồng thuận, củng cố lòng tin và duy trì quan hệ song phương ổn định, lâu dài. Đây là bước phát triển nhận thức quan trọng, là cơ sở để hai nước kiểm soát và giải quyết các vấn đề tồn đọng, không để những vấn đề này ảnh hưởng đến quan hệ hai nước; là điểm tựa để củng cố tin cậy chính trị nhằm phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước mạnh mẽ và vững chắc hơn nữa.

Thứ hai, hai bên đã khẳng định quyết tâm nâng cao hiệu quả, tạo đột phá trong hợp tác kinh tế, mang lại lợi ích thực chất cho người dân, doanh nghiệp hai nước. Theo đó, hai nước nhất trí khai thác các thế mạnh bổ trợ cho nhau nhằm tăng cường gắn kết kinh tế song phương và khu vực, đặc biệt trong các lĩnh vực hạ tầng chiến lược, kết nối chuỗi cung ứng, nông nghiệp và chế biến nông sản, năng lượng và logistics, hợp tác kinh tế biên giới, tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa hai nền kinh tế.

Hai nhà lãnh đạo cũng đề ra nhiều biện pháp nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đưa kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng mạnh mẽ, hướng tới mục tiêu 20 tỷ USD. Đặc biệt, hai bên cũng nhất trí tiếp tục trao đổi về nghiên cứu chung Cơ chế kinh tế mới nhằm liên kết chặt chẽ hơn nền kinh tế hai nước.

Thứ ba, hai bên nhất trí coi quốc phòng, an ninh tiếp tục là trụ cột vững chắc trong quan hệ Việt Nam - Campuchia, quyết tâm giữ vững đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; tăng cường hợp tác giữa hai lực lượng vũ trang bao gồm xây dựng năng lực; chống tội phạm xuyên quốc gia nhất là lừa đảo trực tuyến, buôn bán ma túy. Hai bên cũng quyết tâm không cho phép các thế lực thù địch sử dụng lãnh thổ của nước này để tiến hành các hoạt động chống phá nước kia. Đồng thời, Việt Nam và Campuchia sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ và đóng góp hiệu quả cho hợp tác khu vực, nhất là trong khuôn khổ Tiểu vùng Mekong và ASEAN, góp phần xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, tự cường, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế.

Thứ tư, lãnh đạo hai nước đã khẳng định quyết tâm rất cao trong việc thực hiện hiệu quả các thỏa thuận hợp tác giữa hai Đảng, hai nước, tăng cường tham vấn giữa các ban Đảng, coi việc triển khai thực chất là thước đo quan trọng của quyết tâm chính trị và mức độ tin cậy giữa hai bên.

Một điểm quan trọng đó là cuộc gặp cấp cao ba Đảng Việt Nam - Campuchia - Lào đã thống nhất nhiều nội dung mang tính bước ngoặt về tư duy định hướng hợp tác thời gian tới, điển hình là thống nhất hình thành và phát triển kết nối giữa ba nước về kinh tế, khoa học kỹ thuật, giao thông, năng lượng, nông nghiệp, công nghệ cao và kết nối giữa nhân dân ba nước, nhất là kết nối giữa thanh niên để thế hệ trẻ tiếp tục gìn giữ và phát huy tình đoàn kết gắn bó, giá trị lịch sử bất biến giữa ba Đảng, ba nước. Cuộc gặp cấp cao ba Đảng có sự tham dự của người đứng đầu chính phủ và nghị viện ba nước, phát đi thông điệp mạnh mẽ rằng những kết quả đạt được là sự thống nhất cao của cả hệ thống chính trị các nước, khẳng định sự coi trọng đối với quan hệ ba Đảng, ba nước như một tài sản chung vô giá.

Như vậy, chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam tới Lào và Campuchia đã thành công tốt đẹp, thể hiện quyết tâm chính trị cao của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng như các lãnh đạo của Lào và Campuchia trong việc đưa các mối quan hệ láng giềng hữu nghị, truyền thống phát triển lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu rất cao về phát triển của mỗi nước trong bối cảnh mới, vì lợi ích của nhân dân ba nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, thịnh vượng và phát triển ở khu vực, trên thế giới.

5. Một số kết quả chủ yếu của công tác hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng năm 2025; phương hướng, nhiệm vụ năm 2026

Quán triệt, thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng

Năm 2025, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai đồng bộ, nhất quán, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và các chương trình hành động của Chính phủ. Hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục được hoàn thiện, kịp thời ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất cho triển khai nhiệm vụ hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới.

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Quốc hội ban hành Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW và Nghị định số 234/2025/NĐ-CP về hoạt động của tàu quân sự Việt Nam và tàu quân sự nước ngoài. Cùng với đó, các văn bản liên quan khác tiếp tục cụ thể hóa đường lối, quan điểm đối ngoại của Đảng, Nhà nước, góp phần định hướng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.

Năm 2025 ghi dấu ấn quan trọng khi Việt Nam chủ trì Lễ mở ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng tại Hà Nội. Đây là sự kiện đối ngoại đa phương có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện vai trò chủ động, tích cực và trách nhiệm của Việt Nam trong hội nhập quốc tế về an ninh, quốc phòng, đồng thời khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm mạng.

Hoạt động đối ngoại cấp cao của Đảng, Nhà nước được triển khai sôi động, hiệu quả, với nhiều chuyến thăm, tiếp xúc đối ngoại song phương và đa phương. Quan hệ với các quốc gia, đối tác tiếp tục được củng cố, mở rộng và làm sâu sắc, góp phần mở đường, tạo nền tảng thuận lợi cho công tác hội nhập quốc tế nói chung và hợp tác quốc phòng nói riêng.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng triển khai hiệu quả hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng

Trên cơ sở bám sát thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước xây dựng và triển khai chiến lược hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Việc quán triệt và thực hiện nghiêm Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại và các kết luận liên quan được triển khai đồng bộ trong toàn quân. Bộ Quốc phòng ban hành kế hoạch tổ chức quán triệt, triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW, bảo đảm thống nhất về nhận thức và hành động trong công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các hoạt động đối ngoại quốc phòng đúng chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước; xử lý thận trọng, chặt chẽ, cân bằng quan hệ quốc phòng với các nước, nhất là các nước lớn, bảo đảm không để quan hệ với nước này ảnh hưởng đến quan hệ với nước khác. Các hoạt động hợp tác quốc phòng được triển khai chủ động, tích cực, có nhiều đổi mới, sáng tạo, đạt kết quả toàn diện trên cả bình diện song phương và đa phương.

Cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin, nghiên cứu, dự báo tình hình quốc tế, khu vực tiếp tục được nâng cao hiệu quả, góp phần kịp thời tham mưu, đề xuất các biện pháp, đối sách phù hợp, không để bị động, bất ngờ trước các diễn biến phức tạp.

Một số nội dung nổi bật của công tác đối ngoại quốc phòng

Công tác khắc phục hậu quả chiến tranh tiếp tục được triển khai hiệu quả, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, đồng thời là điểm sáng trong hợp tác quốc phòng với các đối tác quốc tế. Việt Nam tích cực phối hợp triển khai nhiều dự án khắc phục hậu quả bom mìn, chất độc hóa học; tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; tiếp nhận và trao trả kỷ vật chiến tranh, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lòng tin và thúc đẩy quan hệ hợp tác lâu dài.

Hoạt động hợp tác khoa học, công nghệ quân sự, hợp tác kỹ thuật quân sự tiếp tục được duy trì và phát triển; các cơ chế hợp tác song phương, liên Chính phủ được tổ chức hiệu quả; một số kết quả cụ thể trong hợp tác nghiên cứu khoa học, huấn luyện, trang bị kỹ thuật được triển khai đúng kế hoạch.

Quan hệ hợp tác quốc phòng song phương tiếp tục được củng cố, tăng cường, nhất là với các nước láng giềng, các đối tác quan trọng. Công tác đối ngoại biên giới được triển khai hiệu quả, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và phát triển. Quan hệ quốc phòng với Trung Quốc, Lào, Campuchia tiếp tục được thúc đẩy theo hướng ổn định, thực chất, đi vào chiều sâu, tăng cường lòng tin chính trị và hợp tác thiết thực.

Quan hệ hợp tác quốc phòng với các đối tác lớn và các nước khác được duy trì, phát triển thông qua các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao, đối thoại chính sách, chiến lược quốc phòng, góp phần làm sâu sắc quan hệ song phương, mở rộng lĩnh vực hợp tác, bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên.

Hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương được triển khai tích cực, hiệu quả. Việt Nam tham gia đầy đủ, có trách nhiệm vào các diễn đàn, cơ chế quốc phòng - an ninh khu vực và quốc tế; tiếp tục khẳng định vai trò chủ động, tích cực, trách nhiệm trong ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt. Hoạt động tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được triển khai theo đúng kế hoạch, từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, tổ chức lực lượng và mở rộng phạm vi tham gia.

Phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026

- Quán triệt, triển khai công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo đúng đường lối đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Kết luận số 53-KL/TW, ngày 28/4/2023 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Kết luận số 66-KL/TW, ngày 15/11/2023 của Bộ Chính trị về ứng xử với các nước lớn. Bám sát định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước những chủ trương, giải pháp chiến lược liên quan đến hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.

- Lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện kế hoạch thăm chính thức, làm việc tại các nước theo chương trình đối ngoại của Lãnh đạo cấp cao, kết hợp thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương với các đối tác. Lãnh đạo Bộ Quốc phòng triển khai kế hoạch hoạt động đối ngoại quân sự, quốc phòng theo các khuôn khổ đa phương, song phương thực chất và hiệu quả.

- Tiếp tục theo dõi nắm chắc diễn biến tình hình thế giới, khu vực, nhất là xung đột Nga - Ucraina, tình hình Trung Đông, cạnh tranh giữa Mỹ/Phương Tây với Nga và Trung Quốc, các hoạt động tập hợp lực lượng và sự điều chỉnh trong chính sách của các nước lớn, Biển Đông, tuyến biên giới và vùng biển Tây Nam; chú trọng tham mưu chiến lược, kịp thời thống nhất tham mưu, xử lý quan hệ và triển khai các hoạt động đối ngoại đúng chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước, đáp ứng mục tiêu chiến lược, đảm bảo tối ưu lợi ích của ta, không để bị động, bất ngờ chiến lược.

- Tập trung triển khai các hoạt động hợp tác quốc phòng song phương với các đối tác chủ chốt, tiếp tục đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất, đạt hiệu quả thiết thực, phù hợp với lợi ích của ta và đối tác. Tiếp tục ưu tiên quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các nước bạn bè truyền thống, đồng thời mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước có tiềm năng.

- Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng triển khai kế hoạch tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng - quân sự song phương và đa phương trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN giữ vai trò chủ đạo. Nghiên cứu tham gia một số hoạt động diễn tập đa phương trong các lĩnh vực nhân đạo như tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa ở các mức độ khác nhau; triển khai hiệu quả các chương trình, dự án khắc phục hậu quả chiến tranh; tiếp tục tham gia hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

- Chuẩn bị chu đáo tham gia và tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại như: Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam lần thứ 3; Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Lào lần thứ nhất; Cuộc gặp giữa 03 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam - Lào - Campuchia và Diễn tập chung Quân đội 03 nước Việt Nam - Lào - Campuchia tại Việt Nam và các hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương theo cơ chế thường niên luân phiên.

 

III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

Nghị định số 03/2026/NĐ-CP, ngày 09/01/2026 của Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Nghị định gồm 56 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:

Theo Nghị định, quỹ xã hội là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện góp một phần tài sản để thành lập hoặc thành lập thông qua di chúc, hiến, tặng cho tài sản; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ; tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, nông nghiệp, nông thôn, bảo vệ tài nguyên và môi trường, an sinh xã hội và cộng đồng.

Quỹ từ thiện là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện góp một phần tài sản để thành lập hoặc thành lập thông qua di chúc, hiến, tặng cho tài sản; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ; tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích từ thiện, nhân đạo; hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn và các đối tượng khác thuộc diện khó khăn, yếu thế cần sự trợ giúp của xã hội.

Mục đích, lĩnh vực hoạt động: Quỹ xã hội, quỹ từ thiện (quỹ) được tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm mục đích hỗ trợ, khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, nông nghiệp, nông thôn; bảo vệ tài nguyên và môi trường; cộng đồng, từ thiện, nhân đạo, an sinh xã hội; hỗ trợ các đối tượng thuộc diện khó khăn, yếu thế cần sự trợ giúp của xã hội; hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh theo quy định pháp luật.Quỹ được cấp giấy phép thành lập khi đảm bảo đủ các điều kiện sau: (1) Mục đích, lĩnh vực hoạt động theo quy định ở trên; (2) Sáng lập viên thành lập quỹ, Ban sáng lập quỹ theo quy định; (3) Ban sáng lập quỹ có đủ số tài sản đóng góp để thành lập quỹ theo quy định; (4) Hồ sơ thành lập quỹ theo quy định.

Nghị định quy định cá nhân, tổ chức nước ngoài được góp tài sản cùng công dân, tổ chức Việt Nam để thành lập quỹ ở Việt Nam. Điều kiện đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài: Phải có cam kết nộp thuế và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của tài sản đóng góp; cam kết thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Việt Nam và mục đích hoạt động của quỹ; có tài sản đóng góp thành lập quỹ theo quy định. Tài sản đóng góp thành lập quỹ của cá nhân, tổ chức nước ngoài không được vượt quá 50% tổng số tài sản đóng góp thành lập quỹ theo quy định.

Điều kiện để quỹ được hoạt động: (1) Có giấy phép thành lập và công nhận điều lệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; (2) Đã công bố về việc thành lập quỹ theo quy định; (3) Có văn bản xác nhận của ngân hàng nơi quỹ đăng ký mở tài khoản về số tiền mà từng sáng lập viên cam kết đóng góp để thành lập quỹ đã có đủ trong tài khoản của quỹ. Đối với tài sản khác, đã thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản theo quy định; (4) Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quỹ đủ điều kiện hoạt động và công nhận Hội đồng quản lý quỹ.Quỹ hoạt động theo địa giới hành chính gồm: Quỹ hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh; Quỹ hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (tỉnh); Quỹ hoạt động trong phạm vi xã, phường, đặc khu (xã).Các hành vi bị nghiêm cấm: Nghị định nghiêm cấm lợi dụng việc thành lập và tổ chức, hoạt động của quỹ để thực hiện các hành vi sau: (1) Hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích của quỹ, làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng; gây phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, khối đại đoàn kết dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; (2) Xâm hại đạo đức xã hội, thuần phong, mỹ tục, truyền thống, bản sắc dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; (3) Tư lợi, gian dối, thực hiện, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, lập chứng từ không đúng thực tế hoặc thông đồng với tổ chức, cá nhân nhằm trốn thuế, gian lận thuế hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tài chính, thuế, kế toán trong quá trình thành lập, hoạt động của quỹ; (4) Rửa tiền, tài trợ khủng bố và các hoạt động trái pháp luật; (5) Làm giả, tẩy xóa, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, cầm cố, thế chấp giấy phép thành lập quỹ dưới bất kỳ hình thức nào; (6) Nhận tiền gửi, cho vay, góp vốn đầu tư; (7) Sử dụng ngân sách nhà nước, sử dụng hoặc hỗ trợ tài sản được ngân sách nhà nước giao hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để tham gia góp tài sản thành lập quỹ.Chính sách của Nhà nước đối với quỹ: Nhà nước tạo điều kiện để quỹ tổ chức, hoạt động theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ của quỹ; Nhà nước hỗ trợ kinh phí để quỹ thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao (nếu có). Việc đóng góp tài sản của cá nhân, tổ chức vào quỹ được áp dụng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy

Admin Ban Tuyên giáo
Tin tức sự kiện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0