Thông tin, tư liệu phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 4 năm 2026

I. TIN THÀNH PHỐ

1. Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng

Ngày 16/3/2026, đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có chuyến thăm và làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng. Tại buổi làm việc, đồng chí đã nghe báo cáo triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; các nghị quyết chiến lược của Trung ương; công tác quy hoạch phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng và một số nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong thời gian tới cùng các kiến nghị, đề xuất của thành phố Hải Phòng; ý kiến phát biểu của đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương.

Ngày 18/3/2026, Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành Thông báo số 27-TB/VPTW thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng. 

Theo đó, Tổng Bí thư Tô Lâm ghi nhận, đánh giá cao những kết quả phát triển năm 2025 cũng như những năm gần đây của thành phố Hải Phòng với nhiều chỉ số đứng hàng đầu cả nước: GRDP duy trì 11 năm liên tiếp đạt tăng trưởng 2 con số; kết cấu hạ tầng chiến lược được tập trung nguồn lực, mở rộng không gian phát triển mới, các động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững thời gian tới; công tác an sinh xã hội được bảo đảm; an ninh chính trị ổn định; Hải Phòng đã nghiêm túc, bài bản và trách nhiệm trong quán triệt, triển khai, xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng; cụ thể hoá các nghị quyết chiến lược của Trung ương; xây dựng một số mô hình chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa; triển khai, thực hiện các kết luận của đồng chí Tổng Bí thư làm việc với địa phương hồi tháng 11/2024…

Những kết quả thời gian qua là nền tảng quan trọng để Hải Phòng tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm công nghiệp và cảng biển hiện đại, một cực tăng trưởng quan trọng của miền Bắc và của cả nước; hướng tới đô thị biển văn minh, hiện đại và đáng sống, thể hiện rõ khát vọng phát triển mạnh mẽ và tinh thần tiên phong của Thành phố Cảng Anh hùng.

Bên cạnh những kết quả đạt được thì thành phố vẫn còn một số hạn chế, thách thức như: tăng trưởng kinh tế cao nhưng một số chỉ tiêu chưa đạt mục tiêu đề ra; quá trình đô thị hoá nhanh đặt ra nhiều vấn đề về quy hoạch đô thị, môi trường, nhà ở cho người lao động và chất lượng dịch vụ công; Hải Phòng đối mặt với những thách thức mới về chuyển dịch chuỗi cung ứng, cạnh tranh công nghệ và yêu cầu phát triển xanh, bền vững…

Trong thời gian tới, điều kiện phát triển của thành phố Hải Phòng có nhiều cơ hội, thời cơ, khó khăn, thách thức đan xen. Có nhiều mục tiêu, kỳ vọng lớn được đặt ra, đòi hỏi thành phố phải có một tư duy phát triển, tầm nhìn dài hạn và những giải pháp mang tính đột phá hơn nữa. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu Thành uỷ Hải Phòng lãnh đạo, chỉ đạo toàn hệ thống chính trị đoàn kết, phát huy trí tuệ và trách nhiệm, tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, trong triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, cần cụ thể hoá thành Chương trình hành động bài bản, đồng bộ, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá định kỳ. Trong đó, một số định hướng trọng tâm gồm: Tạo đột phá trong phát triển công nghiệp hiện đại, trọng tâm là công nghiệp công nghệ cao, chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ có giá trị gia tăng cao; phục hồi có chọn lọc các ngành thế mạnh như cơ khí, đóng tàu, vận tải, dịch vụ cảng biển trên nền tảng công nghệ cao, tiêu chuẩn môi trường mới. Hình thành hệ thống cảng biển, hệ thống logistics và kinh tế biển hiện đại với mô hình vận tải đa phương thức, thương mại điện tử, cảng xanh và cảng thông minh. Tập trung triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, xây dựng các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, từng bước hình thành Công viên khoa học công nghệ và hoàn thiện Trung tâm điều hành thông minh. Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, đưa khu vực này trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng nhất. Triển khai quyết liệt các cơ chế, chính sách đặc thù để huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực phát triển. Cơ cấu thu, chi ngân sách theo hướng tăng kỷ luật tài chính, ưu tiên chi đầu tư phát triển, giảm dần chi thường xuyên. Khai thác hiệu quả tài sản công, xử lý dứt điểm tồn đọng, chống lãng phí, thất thoát. Đổi mới quản trị đô thị theo hướng chính quyền số, kiến tạo và phục vụ, vận hành đồng bộ hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp, nhất là cấp cơ sở, bảo đảm trơn tru, đồng bộ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, phục vụ người dân, doanh nghiệp nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Hai là, về quy hoạch kết nối vùng và mục tiêu phát triển thành phố Hải Phòng

Hải Phòng cần đặc biệt coi trọng tư duy về quy hoạch phát triển, xác định tầm nhìn dài hạn, chiến lược về vị trí của thành phố trong cấu trúc phát triển quốc gia và khu vực. Trong cấu trúc phát triển của đất nước, Hải Phòng được định vị là cực tăng trưởng kinh tế biển, cùng Hà Nội, Quảng Ninh hình thành tam giác động lực phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế, khu vực ngày càng gay gắt, Hải Phòng cần đặt mình trong tương quan với các thành phố cảng lớn ở châu Á và thế giới để định hình quy mô phát triển của một đô thị cảng hiện đại, trung tâm logistics và kinh tế biển có sức cạnh tranh quốc tế.

Đến năm 2030, Hải Phòng cần định hình cấu trúc không gian kinh tế biển hiện đại, trong đó hệ thống cảng biển và mạng lưới logistics giữ vai trò trung tâm với khu vực Cảng Lạch Huyện, Cảng Nam Đồ Sơn cùng các khu công nghiệp, khu thương mại tự do, trở thành trung tâm điều phối logistics và chuỗi cung ứng của miền Bắc và khu vực. Đến năm 2045, Hải Phòng trở thành thành phố cảng công nghiệp dịch vụ hiện đại tầm châu Á, trung tâm kinh tế biển, logistics, năng lượng sạch và khoa học công nghệ biển của đất nước; đô thị biển xanh, thông minh, đáng sống, hội tụ tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Thời gian sau đó, quy hoạch thành phố cần hướng tới một siêu đô thị biển có sức cạnh tranh toàn cầu, trung tâm giao thương logistics và kinh tế biển của khu vực Đông Á.

Ba là, về phát triển vì con người và nâng cao đời sống cho Nhân dân

Với phương châm: Phát triển kinh tế phải hướng tới nâng cao đời sống Nhân dân, lấy con người làm trung tâm của phát triển, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của tăng trưởng, Hải Phòng cần chú trọng quan tâm các mặt đời sống, đào tạo, việc làm của lực lượng lao động, nhất là công nhân trong các khu công nghiệp, công nhân cảng biển, người lao động nhập cư và các nhóm yếu thế trong xã hội. Phát triển công nghiệp gắn với phát triển đồng bộ hạ tầng xã hội, nhất là nhà ở xã hội, khu lưu trú cho công nhân và các thiết chế văn hoá, giáo dục, y tế, nhà trẻ, dịch vụ công cộng. Phát triển hệ thống y tế theo hướng hiện đại, công bằng. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, triển khai hiệu quả các chương trình giảm nghèo bền vững, tạo sinh kế và cơ hội việc làm cho người dân, hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương, mở rộng mạng lưới bảo trợ xã hội. Xây dựng môi trường sống xanh, an toàn và bền vững, thích ứng hiệu quả với tình trạng biến đổi khí hậu.

Đặc biệt quan tâm chất lượng cuộc sống, sự an toàn, công bằng và cơ hội phát triển cho mỗi công dân. Hải Phòng cần hướng tới trở thành một “thành phố đáng sống”: Nơi mọi người dân đều có cơ hội học tập, làm việc sáng tạo và vươn lên; nơi tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội, văn hoá, môi trường và hạnh phúc của con người.

Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm cơ bản thống nhất với các đề xuất, kiến nghị của thành phố Hải Phòng; đồng chí đề nghị Đảng uỷ Quốc hội, Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương có liên quan tiếp tục xem xét, giải quyết với tinh thần hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để thành phố bảo đảm được các định hướng, mục tiêu phát triển trong thời gian tới, đặc biệt với tầm nhìn dài hạn.

2. Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I nhiệm kỳ 2025 – 2030

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố ban hành Chương trình hành động số 17-CTr/TU, ngày 06/3/2026 thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I nhiệm kỳ 2025 – 2030. Chương trình hành động số 17-CTr/TU thay thế Chương trình hành động số 05-CTr/TU, ngày 06/11/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I nhiệm kỳ 2025 – 2030.

Chương trình hành động số 17-CTr/TU được ban hành nhằm quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương; đồng thời rà soát, bổ sung, tích hợp các nội dung của Chương trình hành động số 05-CTr/TU, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong giai đoạn 2026 - 2030. 

Về các chỉ tiêu chủ yếu, ngoài các chỉ tiêu được đề ra tại Chương trình hành động số 05-CTr/TU, Chương trình hành động số 17-CTr/TU đã bổ sung thêm 02 chỉ tiêu nằm trong nhóm lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh được cập nhật theo Nghị quyết Đại hội XIV, đó là: Chỉ tiêu số 5, tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 43% GRDP, trong đó đầu tư công chiếm 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; Chỉ tiêu số 22, tỉ lệ đô thị hoá đạt khoảng 55%. Ngoài ra chỉ tiêu về quốc phòng, an ninh được điều chỉnh như sau: “Tỷ lệ điều tra khám phá các loại tội phạm đạt tỷ lệ trên 80% (trong Chương trình số 05-CTr/TU là trên 75%), các loại tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đạt trên 95% (trong Chương trình số 05-CTr/TU là trên 90%)”.

Chương trình hành động số 17-CTr/TU đã bổ sung kịch bản tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030 của thành phố Hải Phòng (thể hiện cụ thể ở phụ lục 4). Theo đó, đề ra kịch bản tăng trưởng cho từng chỉ tiêu cụ thể trong từng năm trong giai đoạn 2026 - 2030 như: Tốc độ tăng GRDP (lần lượt là 13,0% - 2026, 13,0% - 2027, 12,91% - 2028, 13,02% - 2029, 13,20% - 2030); GRDP bình quân đầu người (lần lượt là 7944,5 USD/người - 2026, 8676 USD/người - 2027, 9457 USD/người - 2028, 10310 USD/người - 2029, 11247 USD/người - 2030)…

Nhóm các nhiệm vụ chủ yếu được bổ sung, cập nhật tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV và được bố cục lại thành 12 nhóm nhiệm vụ chủ yếu, trong từng nhóm nhiệm vụ chủ yếu đều xác định các nhiệm vụ cụ thể với nguyên tắc 6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền; phân công cụ thể, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành. Trong đó, nhiều nhiệm vụ mới được bổ sung, cập nhật theo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV như: Xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030; Triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước; Nâng cao chất lượng việc làm, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện đại và hội nhập quốc tế, bảo đảm việc làm bền vững (với mục tiêu tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 55% vào năm 2030)

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố yêu cầu các cấp uỷ đảng trực thuộc, các sở, ban, ngành thành phố tổ chức nghiên cứu, quán triệt sâu rộng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; gắn với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I, Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 và các nghị quyết chiến lược của Trung ương, Bộ Chính trị. Chủ động rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chương trình, kể hoạch hành động đã ban hành, bảo đảm đồng bộ, có mục tiêu, lộ trình và thời gian thực hiện cụ thể. Kết quả thực hiện Chương trình hành động là căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu. Toàn Đảng bộ khẩn trương đưa Nghị quyết vào cuộc sống; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; hành động quyết liệt, chủ động, sáng tạo ngay từ đầu nhiệm kỳ, tránh chậm trễ, hình thức; lấy kết quả cụ thể và sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo cao nhất.

3. Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành uỷ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam

Ban Thường vụ Thành ủy vừa ban hành Chương trình hành động số 18-CTr/TU, ngày 12/3/2026 thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Chương trình hành động được ban hành nhằm cụ thể hóa và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW, xem phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững của thành phố. Ban Thường vụ Thành uỷ yêu cầu phát triển văn hoá đồng bộ, toàn diện và vững chắc, đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị với sự phát triển văn hoá.

Mục tiêu quan trọng hàng đầu trong xây dựng và phát triển văn hóa Hải Phòng là xây dựng con người Hải Phòng phát triển toàn diện cả thể lực và trí tuệ, năng động sáng tạo, có tác phong công nghiệp, văn minh, lịch thiệp, có trình độ văn hóa và tay nghề cao, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, có tầm nhìn xa, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố và đất nước.

Chương trình hành động đề ra 2 nhóm chỉ tiêu đến năm 2030. Trong đó nhóm chỉ tiêu theo Nghị quyết số 80-NQ/TW có 6 chỉ tiêu gồm: 100% xã, phường có thiết chế văn hóa, thể thao, 95% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; 100% các di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt được số hóa và ứng dụng trên các nền tảng số; 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân của thành phố được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hoá; bảo đảm bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn; phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GRDP; phấn đấu thêm 01 - 02 di sản văn hóa vật thể hoặc phi vật thể được UNESCO công nhận, ghi danh, 01 danh nhân được UNESCO vinh danh. Nhóm chỉ tiêu bổ sung có 14 chỉ tiêu gồm: bảo đảm vận hành hiệu quả 03 loại hình thiết chế văn hóa cấp thành phố (Trung tâm Văn hóa, Triển lãm và Điện ảnh; Bảo tàng; Thư viện) và các thiết chế văn hóa cơ sở cấp xã, thôn; 90% văn nghệ sỹ tài năng, công chức, viên chức thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn; tổ chức xét tặng và trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hải Phòng 02 năm/lần, các tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật, điện ảnh, lý luận phê bình văn học, nghệ thuật xuất sắc, chất lượng cao được hỗ trợ sáng tác, công bố, phổ biến; từ năm 2028, mỗi năm đăng cai tổ chức ít nhất 02 sự kiện âm nhạc quốc tế, 03 sự kiện âm nhạc quốc gia; hình thành hoặc nâng cấp ít nhất 05 không gian văn hóa - nghệ thuật - sáng tạo tiêu biểu (quảng trường, nhà hát, phố đi bộ, không gian ven sông/biển...); xây dựng 05 - 07 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia; di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn, phát huy với 02 - 03 di sản/năm; phát huy hiệu quả 03 - 05 di sản văn hóa võ cổ truyền, trò chơi dân gian... để phổ cập trong cộng đồng nhằm nâng cao thể lực; hình thành 01 - 02 bảo tàng tư nhân theo hình thức hợp tác công – tư; xây dựng 02 hiện vật, nhóm hiện vật đề nghị công nhận bảo vật quốc gia, 02 - 03 hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; số lượt khách du lịch đón và phục vụ hàng năm đạt 16 - 25 triệu lượt khách (trong đó lượng khách quốc tế từ 1,2 - 3 triệu lượt); tỷ lệ người dân được tham gia, hưởng thụ giá trị văn hóa truyền thống bản sắc của địa phương, văn hóa phi vật thể, các chương trình văn hóa, nghệ thuật dành cho cộng đồng đạt 50 - 60%; tỷ lệ tổ chức đảng, đảng viên có cam kết hành động cụ thể, thực hiện sinh hoạt chuyên đề để nâng cao văn hóa công vụ là 100%; tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức được đánh giá thường xuyên về văn hóa công vụ đạt 100%.

Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng và phát triển văn hóa Hải Phòng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thấm nhuần các giá trị của nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực phát triển bền vững của thành phố. Hải Phòng trở thành thành phố âm nhạc, trung tâm giao lưu, sáng tạo và lan tỏa văn hóa của vùng duyên hải Bắc Bộ; từng bước đưa Hải Phòng trở thành trung tâm sáng tạo văn hóa biển và công nghiệp văn hóa của vùng Bắc Bộ…

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chương trình hành động đề ra 09 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: (1) Đổi mới tư duy, thống nhất về nhận thức và hành động, phương thức phát triển văn hóa thành phố; (2) Hoàn thiện thể chế, quy hoạch phát triển văn hóa gắn với Quy hoạch phát triển thành phố; (3) Phát triển và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; chú trọng xây dựng con người Hải Phòng; hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn, sáng tạo, văn minh, hiện đại; (4) Xây dựng văn hóa trong chính trị, thực hiện quản lý văn hoá theo hướng kiến tạo, thực hiện văn hoá công vụ và trách nhiệm, nêu gương để xây dựng niềm tin của Nhân dân, của xã hội; (5) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực bứt phá cho phát triển văn hóa; (6) Xây dựng hệ sinh thái văn hóa - sáng tạo thành phố đa dạng, hiện đại, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; nhận diện và ứng xử thích hợp tài nguyên văn hoá; (7) Phát triển công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn và định vị thương hiệu thành phố âm nhạc ở khu vực; (8) Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển văn hóa, phát triển hạ tầng đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới; (9) Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần gia tăng sức mạnh mềm của thành phố.

Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các địa phương, đơn vị chỉ đạo quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết số 80-NQ/TW và Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện bảo đảm phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị; thường xuyên đôn đốc, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW và Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy. Chỉ đạo cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp; ưu tiên đầu tư phát triển văn hóa; huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội.

4. Điều động, chỉ định đồng chí Đỗ Thành Trung, Thứ trưởng Bộ Tài chính giữ chức Phó Bí thư Thành ủy, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Chiều 16/3, Ban Thường vụ Thành ủy tổ chức Hội nghị triển khai quyết định của Ban Bí thư về công tác cán bộ.

Dự Hội nghị về phía Trung ương có các đồng chí: Hoàng Trung Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương; Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Về phía lãnh đạo thành phố có các đồng chí: Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố; Lê Ngọc Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố; Đỗ Mạnh Hiến, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy; Lê Văn Hiệu, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố; Phạm Văn Lập, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Ủy viên Thành ủy và lãnh đạo các Sở, ngành, đơn vị.

Tại hội nghị, đồng chí Hoàng Trung Dũng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương đã trao quyết định của Ban Bí thư về việc điều động, chỉ định đồng chí Đỗ Thành Trung, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tài chính tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành ủy và giữ chức Phó Bí thư Thành ủy Hải Phòng, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Hoàng Trung Dũng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương nêu rõ, việc đồng chí Đỗ Thành Trung được tin tưởng giao nhiệm vụ Phó Bí thư Thành ủy Hải Phòng thể hiện sự ghi nhận, đánh giá, quan tâm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cũng như tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính. Đồng chí Đỗ Thành Trung được đánh giá là cán bộ có bản lĩnh, phẩm chất chính trị; có năng lực, kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước, nhất là trong lĩnh vực kinh tế tổng hợp, kế hoạch, đầu tư, tài chính; có phương pháp làm việc khoa học, đổi mới, sáng tạo, quyết liệt, có nhiều đóng góp quan trọng cho lĩnh vực kế hoạch - đầu tư, tài chính. Đồng chí đề nghị trên cương vị công tác mới, đồng chí Đỗ Thành Trung nhanh chóng nắm bắt tình hình, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; cùng tập thể cấp ủy, chính quyền phát huy sức mạnh đoàn kết, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đi đầu trong xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa gắn với con người xã hội chủ nghĩa. Đồng thời đề nghị Ban Thường vụ Thành ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ đồng chí Đỗ Thành Trung hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin tưởng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và phát huy tiềm năng, lợi thế không gian phát triển của thành phố Hải Phòng sau hợp nhất.

Phát biểu nhận nhiệm vụ, đồng chí Đỗ Thành Trung, Phó Bí thư Thành ủy trân trọng cảm ơn sự tin tưởng của Ban Bí thư, cá nhân đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đồng chí cam kết sẽ thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chấp hành quy chế làm việc của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành ủy, nhanh chóng tiếp cận thực tiễn để ổn định công việc. Với tinh thần “nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”, cầu thị học hỏi, kế thừa những kết quả của các thế hệ lãnh đạo tiền nhiệm, bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I nhiệm kỳ 2025 - 2030 để cùng tập thể lãnh đạo thành phố hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm đề ra.

5. Công bố danh sách người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 - 2031

- Chiều 21/3/2026, tại Nhà Quốc hội, Hội đồng Bầu cử quốc gia tổ chức họp báo công bố Nghị quyết của Hội đồng bầu cử quốc gia về kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI. 

Theo đó, 19 trong tổng số 33 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại thành phố Hải Phòng trúng cử. Trong số 19 người trúng cử có 6 nữ, 2 người dân tộc thiểu số, 8 người tái cử, 18 người có trình độ sau đại học, 1 người thuộc lực lượng quân đội - công an.

Tổng số đại biểu Quốc hội khoá XVI được bầu là 500 đại biểu, tổng số người ứng cử là 863 người, số đại biểu trúng cử là 500 người. Cả nước có gần 76,2 triệu cử tri tham gia bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 99,7%. Đáng chú ý, không có đơn vị bầu cử nào trên cả nước phải tổ chức bầu lại. 

Cơ cấu thành phần đại biểu Quốc hội khóa XVI đã giảm đại biểu kiêm nhiệm làm việc trong các cơ quan hành pháp, tư pháp, tăng tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội dự kiến hoạt động chuyên trách trúng cử cao nhất từ trước đến nay, đạt 40% (cao hơn 1,4% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV). 100% số đại biểu dự kiến hoạt động chuyên trách trúng cử; tỷ lệ đại biểu là phụ nữ trúng cử tiếp tục đạt mức cao (30%).

Trên cơ sở công bố kết quả bầu cử, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành lập danh sách những người trúng cử, thực hiện các thủ tục theo quy định. Nếu không phát sinh khiếu nại, tố cáo liên quan đến kết quả bầu cử, các cơ quan sẽ tiến hành xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND theo quy định của pháp luật.

Dự kiến, kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI sẽ họp ngày 06/4/2026 để kiện toàn nhân sự và tiến hành công tác xây dựng pháp luật.

- Ngày 18/3/2026, Ủy ban Bầu cử thành phố Hải Phòng đã ban hành Nghị quyết số 04/NQ-UBBC công bố kết quả bầu cử và danh sách chính thức những người trúng cử đại biểu HĐND thành phố khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031. 

Theo Nghị quyết, có 85 người trúng cử đại biểu HĐND thành phố, được xác định theo từng đơn vị bầu cử, bảo đảm đúng quy định của pháp luật, với tỷ lệ phiếu bầu hợp lệ cao. Cơ cấu, thành phần đại biểu trúng cử bảo đảm tính đại diện của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn thành phố. Trong số những người trúng cử, người có tỷ lệ số phiếu bầu cao nhất là 99,88%, người có tỷ lệ số phiếu bầu thấp nhất 83,13%.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 tại Hải Phòng đã thành công tốt đẹp, đảm bảo dân chủ, đúng pháp luật và an toàn tuyệt đối. Toàn thành phố có hơn 3,08 triệu cử tri tham gia bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 99,85%. Kết quả, cử tri đã bầu đủ 19 đại biểu Quốc hội; 85 đại biểu HĐND thành phố và 2.373 đại biểu HĐND cấp xã. Đặc biệt, cuộc bầu cử lần này là dấu mốc quan trọng trong việc kiện toàn bộ máy Nhà nước sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tạo đà cho sự phát triển ổn định của thành phố trong nhiệm kỳ mới.

Theo kế hoạch, HĐND thành phố khóa XVII sẽ tổ chức kỳ họp thứ nhất chậm nhất vào ngày 31/3/2026.

 

II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI

1. Quy định mới chế độ đảng phí và quản lý, sử dụng thẻ đảng viên

Ngày 03/02/2026, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 01-QĐ/TW về chế độ đảng phí; quy định cụ thể việc đóng đảng phí của đảng viên; nguyên tắc thu, nộp, phân bổ, quản lý và sử dụng đảng phí của tổ chức đảng các cấp; áp dụng đối với toàn bộ đảng viên, tổ chức, cơ quan, đơn vị của Đảng và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Quy định khẳng định, đóng đảng phí là nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi đảng viên theo Điều lệ Đảng. Đảng viên phải báo cáo trung thực với chi bộ về thu nhập làm căn cứ xác định mức đóng. Đảng viên trong nước (kể cả đảng viên dự bị) thực hiện đóng đảng phí hằng tháng qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc nộp trực tiếp bằng tiền mặt cho chi bộ; lộ trình thực hiện trên môi trường số theo hướng dẫn của Văn phòng Trung ương Đảng. Trừ các trường hợp bất khả kháng, việc thu, nộp đảng phí của tổ chức đảng các cấp đều thực hiện trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia nhằm bảo đảm công khai, minh bạch, thuận tiện và hiện đại hóa công tác quản lý tài chính đảng.

Khuyến khích đảng viên tự nguyện đóng cao hơn mức quy định; đồng thời nêu rõ, trường hợp đảng viên không đóng đảng phí 3 tháng trong năm mà không có lý do chính đáng thì chi bộ xem xét, đề nghị cấp ủy có thẩm quyền xóa tên khỏi danh sách đảng viên. Các tổ chức đảng được mở tài khoản ngân hàng để quản lý, sử dụng tiền đảng phí; chủ động lựa chọn hình thức quản lý số dư bảo đảm an toàn, chặt chẽ, đúng quy định pháp luật.

Về mức đóng, đảng viên tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đóng hằng tháng bằng 1% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước; trường hợp nghỉ ốm đau, thai sản đóng 1% mức trợ cấp do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả. Đảng viên hưởng lương hưu đóng 0,5% mức lương hưu; học sinh, sinh viên đóng 5.000 đồng/tháng.

Đối với đảng viên chưa đến tuổi nghỉ hưu, mức đóng tính theo tỷ lệ lương tối thiểu vùng: 0,3% giai đoạn 2026 - 2027 và 0,5% từ năm 2028; đảng viên đã đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa hưởng lương hưu đóng mức thấp hơn, tương ứng 0,2% và 0,3%. Đảng viên là người có công với cách mạng, hưởng trợ cấp bệnh binh, mất sức lao động hoặc trợ cấp bảo trợ xã hội chỉ đóng bằng 50% mức của nhóm tương ứng.

Đảng viên ở nước ngoài làm việc tại cơ quan đại diện Việt Nam, phu nhân, phu quân đi theo nhiệm kỳ, lưu học sinh theo diện ngân sách hoặc hiệp định đóng bằng 1% sinh hoạt phí hằng tháng. Các trường hợp khác ở nước ngoài thực hiện theo mức do cơ quan có thẩm quyền quyết định, tương đương từ 30.000 đến 400.000 đồng/tháng.

 Các trường hợp được miễn, giảm đảng phí, như đảng viên có từ 50 năm tuổi đảng trở lên; người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; đảng viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. Các trường hợp khó khăn khác có thể được xem xét giảm 30%, 50% hoặc 70% mức đóng trong thời gian tối đa 12 tháng. Đồng thời, bổ sung quy định về chậm đóng, đóng trước đảng phí và không thu đảng phí trong thời gian đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt do bị tạm giam hoặc bị xử lý theo bản án của tòa án.

 Quy định số 01-QĐ/TW có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2026, thay thế Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 342-QĐ/TW năm 2010. Đảng ủy từ cấp cơ sở trở lên và ủy ban kiểm tra các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát thường xuyên việc thực hiện, bảo đảm chế độ đảng phí được triển khai nghiêm túc, thống nhất trong toàn Đảng.

Ngày 09/02/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ký ban hành Quy định số 06-QĐ/TW về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên; quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và đảng viên trong việc quản lý, sử dụng và xử lý vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ đảng viên. Theo Quy định, quản lý thẻ đảng viên là các hoạt động cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên; sản xuất, in, huỷ thẻ đảng viên; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ đảng viên của cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ các cấp. Thẻ đảng viên được dùng để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, trong đại hội đảng các cấp (trừ các trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín); thực hiện các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử theo quy định. Việc quản lý và sử dụng thẻ đảng viên bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định. Nghiêm cấm việc làm giả thẻ đảng viên.

Về trách nhiệm của đảng viên, Quy định nêu rõ: Đảng viên phải bảo quản, giữ gìn cẩn thận thẻ đảng viên. Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; không cho người khác mượn, sử dụng thẻ đảng viên; không được dùng thẻ đảng viên để cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố vay, mượn tiền, tài sản; không được đăng tải hình ảnh thẻ đảng viên lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc không phải thẻ của mình; không được tự huỷ thẻ đảng viên. Nếu thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng, bị mất phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với cấp uỷ, chi bộ quản lý trực tiếp để xem xét, đề nghị việc cấp lại thẻ đảng viên theo quy định.

Đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác phải nộp lại thẻ đảng viên cho chi bộ. Đảng viên từ trần thì gia đình của đảng viên được giữ lại thẻ đảng viên và không được sử dụng thẻ đảng viên trái với Quy định này. Đảng viên phát hiện thẻ đảng viên của đảng viên khác bị thất lạc hoặc có những hành vi sử dụng trái với Quy định này phải kịp thời báo cáo cấp uỷ, chi bộ quản lý trực tiếp để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.

Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm quán triệt, hướng dẫn đảng viên quản lý, sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; đề nghị cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên) cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên cho đảng viên theo quy định; tổ chức phát thẻ đảng viên tại cuộc họp chi bộ gần nhất. Định kỳ hằng năm tổ chức kiểm tra thẻ đảng viên tại cuộc họp kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên cuối năm; báo cáo cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng uỷ được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên) kết quả kiểm tra.

Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm tiếp nhận, xác minh, báo cáo kịp thời các trường hợp mất thẻ, hỏng thẻ hoặc sử dụng thẻ đảng viên không đúng quy định lên cấp ủy cấp trên trực tiếp; thu lại thẻ đảng viên khi đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác hoặc thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng và nộp lên cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên). Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.

Các trường hợp xử lý vi phạm gồm: Đảng viên tự ý trả thẻ đảng viên hoặc tự hủy thẻ đảng viên bị xóa tên đảng viên theo quy định; Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên sai quy định; làm mất thẻ đảng viên không có lý do chính đáng; để người khác sử dụng thẻ đảng viên thì tùy theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng. Tổ chức đảng, đảng viên phát hiện những hành vi trái với Quy định này mà không kịp thời tố giác hoặc bao che thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng. Tổ chức, cá nhân làm giả thẻ đảng viên thì tuỳ mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

2. Nhận diện và đấu tranh với những âm mưu, phương thức, thủ đoạn chống phá cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 trên không gian mạng

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đời sống chính trị - xã hội của đất nước ta. Đây không chỉ là hoạt động hiến định nhằm hình thành các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương, mà còn là cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, trực tiếp lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình.

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước, các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam luôn được tổ chức nghiêm túc, đúng pháp luật, bảo đảm tính dân chủ, công khai và minh bạch. Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử qua các nhiệm kỳ luôn ở mức cao, phản ánh sự quan tâm của Nhân dân đối với đời sống chính trị cũng như niềm tin đối với các thiết chế dân chủ của Nhà nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng xã hội, không gian mạng đã trở thành một môi trường truyền thông phức tạp, nơi các thông tin đa chiều được lan truyền với tốc độ nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch, tổ chức chống đối và một số cá nhân cực đoan thường lợi dụng môi trường mạng để phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc về các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, trong đó có các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Việc nhận diện rõ các phương thức, thủ đoạn chống phá trên không gian mạng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tính nghiêm túc của quá trình bầu cử, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị và các thiết chế dân chủ.

(1) Nhận diện các chiến dịch thông tin chống phá bầu cử trên không gian mạng

Các thông tin sai lệch liên quan đến bầu cử trên không gian mạng thường không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà là một phần trong chiến lược truyền thông có chủ đích của các tổ chức chống đối. Mục tiêu của các chiến dịch này là tác động đến nhận thức xã hội, gây hoang mang trong dư luận và làm suy giảm niềm tin của người dân đối với hệ thống chính trị.

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ số, các chiến dịch truyền thông chống phá ngày càng trở nên tinh vi và có tổ chức hơn. Các đối tượng thường sử dụng nhiều công cụ công nghệ mới như video deepfake, hình ảnh cắt ghép, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, cũng như mạng lưới các tài khoản ẩn danh hoặc tài khoản giả để lan truyền thông tin sai lệch. Những nội dung này thường được thiết kế theo hướng tạo cảm giác “chân thực” ảo, khiến người đọc khó phân biệt giữa thông tin thật và giả. Khi một thông tin sai lệch được lặp lại nhiều lần trên nhiều nền tảng khác nhau, nó có thể tạo ra hiệu ứng tâm lý khiến người tiếp nhận tin rằng đó là thông tin đáng tin cậy.

Qua khảo sát các nguồn thông tin trên mạng xã hội và một số trang truyền thông nước ngoài, có thể nhận diện một số nhóm chủ thể thường tham gia phát tán thông tin xuyên tạc liên quan đến bầu cử. Trước hết là các tổ chức chống đối chính trị ở nước ngoài thường xuyên đăng tải các bài viết hoặc video nhằm phủ nhận tính hợp pháp của hệ thống chính trị Việt Nam. Bên cạnh đó là một số trang truyền thông nước ngoài có cách tiếp cận thiên lệch khi bình luận về các sự kiện chính trị tại Việt Nam. Ngoài ra, trên mạng xã hội còn xuất hiện một số tài khoản cá nhân cực đoan thường xuyên đăng tải các bài viết mang tính suy diễn hoặc chưa được kiểm chứng nhằm gây hoài nghi trong dư luận. Một số mạng lưới tài khoản ẩn danh còn sử dụng công nghệ để tạo ra các nội dung giả mạo nhằm gia tăng tốc độ lan truyền của thông tin sai lệch. Sự phối hợp giữa các chủ thể này đã hình thành một hệ sinh thái truyền thông chống phá, trong đó mỗi nhóm đóng một vai trò khác nhau trong việc sản xuất, khuếch tán và lan truyền thông tin xuyên tạc.

(2) Các dạng thông tin xuyên tạc phổ biến liên quan đến cuộc bầu cử

Qua phân tích các nội dung lan truyền trên không gian mạng, có thể nhận thấy các thông tin xuyên tạc về cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 tập trung vào một số nhóm nội dung chủ yếu:

Các luận điệu phủ nhận bản chất dân chủ của cuộc bầu cử. Một số bài viết cố tình cho rằng bầu cử ở Việt Nam chỉ mang tính hình thức hoặc đã được “sắp đặt trước”. Những lập luận này thường bỏ qua thực tế rằng quy trình bầu cử ở Việt Nam được tiến hành theo các quy định chặt chẽ của pháp luật, với sự tham gia của nhiều tổ chức chính trị - xã hội và sự giám sát của cử tri.

Các bài viết bôi nhọ hoặc hạ thấp uy tín của các ứng cử viên. Những nội dung này thường được trình bày dưới dạng “nguồn tin nội bộ” hoặc “thông tin riêng”, khiến người đọc dễ nhầm tưởng rằng đó là thông tin xác thực. Trong nhiều trường hợp, nội dung chỉ dựa trên suy đoán hoặc các thông tin bị cắt xén khỏi bối cảnh.

Bên cạnh đó, một số tổ chức và cá nhân cực đoan còn kêu gọi tẩy chay bầu cử thông qua các bài viết hoặc video trên mạng xã hội với nội dung khuyến khích người dân không tham gia bỏ phiếu[1]. Những lời kêu gọi này thường đi kèm với các lập luận mang tính kích động cảm xúc nhưng thiếu cơ sở pháp lý và không phản ánh đầy đủ quyền cũng như nghĩa vụ công dân.

Ngoài ra, một số bài viết còn cố tình khai thác các sự việc cá biệt xảy ra trong quá trình chuẩn bị bầu cử, sau đó thổi phồng hoặc suy diễn thành vấn đề mang tính hệ thống. Đây là một thủ đoạn truyền thông phổ biến nhằm tạo ra cảm giác rằng tình hình nghiêm trọng hơn so với thực tế.

Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, các nội dung giả mạo như hình ảnh cắt ghép, video chỉnh sửa hoặc ảnh chụp màn hình giả cũng được sử dụng để lan truyền thông tin sai lệch. Do đặc điểm trực quan của hình ảnh và video, những nội dung này thường có sức lan truyền mạnh và dễ gây hiểu nhầm đối với người tiếp nhận thông tin.

(3) Phương thức và thủ đoạn truyền thông chống phá trên không gian mạng

Các chiến dịch truyền thông chống phá bầu cử trên không gian mạng thường được tổ chức theo nhiều phương thức khác nhau nhằm tạo ra hiệu ứng lan truyền rộng rãi. Một trong những thủ đoạn phổ biến là việc lặp lại cùng một nội dung sai lệch trên nhiều nền tảng khác nhau để tạo cảm giác rằng đó là thông tin phổ biến và đáng tin cậy. Khi một nội dung được chia sẻ nhiều lần, người tiếp nhận có thể nhầm tưởng rằng đó là quan điểm chung của xã hội. Một phương thức khác là cắt ghép hoặc trích dẫn thông tin ngoài bối cảnh nhằm làm thay đổi ý nghĩa của nội dung ban đầu. Những đoạn trích bị cắt xén hoặc những hình ảnh được sử dụng sai bối cảnh có thể khiến người đọc hiểu sai bản chất của sự việc.

Ngoài ra, nhiều bài viết còn sử dụng “nguồn tin ẩn danh” để tạo cảm giác rằng thông tin được cung cấp từ một nguồn đáng tin cậy. Chiến thuật này lợi dụng tâm lý tò mò của người đọc đối với những thông tin được cho là “bí mật” hoặc “nội bộ”, từ đó khiến tin đồn lan truyền nhanh chóng.

Một số chiến dịch truyền thông còn cố tình tạo ra “hiệu ứng đám đông” bằng cách sử dụng nhiều tài khoản để đăng tải các nội dung giống nhau hoặc tương tự nhau. Khi người dùng Internet nhìn thấy nhiều bài viết cùng một nội dung, họ có thể nhầm tưởng rằng đó là quan điểm phổ biến trong xã hội. Bên cạnh đó, các nội dung xuyên tạc còn thường khai thác những vấn đề xã hội đang được dư luận quan tâm, sau đó liên kết chúng với cuộc bầu cử nhằm khơi dậy tâm lý bất mãn và tạo ra những câu chuyện đơn giản nhưng dễ lan truyền trên mạng xã hội.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Trong bối cảnh môi trường thông tin ngày càng đa chiều và phức tạp, việc nhận diện và đấu tranh với các thông tin sai lệch về bầu cử đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh và góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị.

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi tham gia các nền tảng truyền thông trực tuyến. Trong điều kiện mạng xã hội ngày càng phổ biến, việc tiếp nhận và chia sẻ thông tin phải dựa trên nguyên tắc thận trọng, khách quan và có kiểm chứng. Việc lan truyền những thông tin chưa được xác thực hoặc có dấu hiệu xuyên tạc không chỉ làm gia tăng nguy cơ nhiễu loạn thông tin mà còn có thể ảnh hưởng đến nhận thức xã hội. Do đó, cán bộ, đảng viên cần chủ động tìm hiểu và nắm vững các quy định pháp luật liên quan đến bầu cử, đồng thời cập nhật thông tin chính thống để có thể kịp thời cung cấp, giải thích và định hướng thông tin đúng đắn cho người dân.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên cần trang bị những kỹ năng cần thiết để nhận diện thông tin sai lệch trên không gian mạng. Những biểu hiện như nguồn tin không rõ ràng, nội dung mang tính suy diễn, thiếu bằng chứng xác thực, tiêu đề giật gân hoặc thông tin bị cắt ghép ngoài bối cảnh thường là dấu hiệu của các nội dung thiếu tin cậy.

Thứ ba, cần xây dựng văn hóa sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm. Không gian mạng không chỉ là nơi trao đổi thông tin mà còn là môi trường thể hiện thái độ, nhận thức và trách nhiệm công dân. Khi mỗi cá nhân có ý thức kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, đồng thời kiên quyết không tiếp tay cho các nội dung sai lệch, môi trường thông tin sẽ trở nên minh bạch và lành mạnh hơn.

3. Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Để triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí kịp thời, thống nhất và hiệu quả, Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí được Thủ tướng ký ban hành bởi Quyết định số 307/QĐ-TTg ngày 15/02/2026. Kế hoạch nêu một số nội dung triển khai trọng tâm sau:

Xây dựng các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành và Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí: Cơ quan chủ trì: Bộ Tài chính. Cơ quan phối hợp: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian hoàn thành: Tháng 5/2026. Việc xây dựng, soạn thảo 02 Nghị định được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn. Sản phẩm: Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí; Nghị định quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật, miễn trừ, giảm nhẹ trách nhiệm xử lý kỷ luật đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí và Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.

Tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Nội dung thực hiện: Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có liên quan. Cơ quan thực hiện: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước được phân công. Thời gian thực hiện: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi kết quả rà soát về Bộ Tài chính trước ngày 15/4/2026; Bộ Tài chính tổng hợp kết quả rà soát báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/5/2026. Sản phẩm: Danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ. Văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ.

Tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026: Nội dung thực hiện: Xây dựng, ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026 theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí. Cơ quan chủ trì: Bộ Tài chính. Cơ quan phối hợp: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan tổ chức khác có liên quan. Thời gian hoàn thành: Trong tháng 4/2026. Sản phẩm: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chủ đề và kế hoạch tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026.

Tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành: Ở trung ương, cơ quan chủ trì: Bộ Tài chính. Cơ quan phối hợp: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Năm 2026 và các năm tiếp theo. Sản phẩm: Hội nghị, tọa đàm, tài liệu phổ biến, tài liệu truyền thông. Ở địa phương, cơ quan chủ trì: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Cơ quan phối hợp: Các ban, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Năm 2026 và các năm tiếp theo. Sản phẩm: Hội nghị, tọa đàm, tài liệu phổ biến, tài liệu truyền thông, các bài đăng trên báo, tạp chí, phóng sự.

Phổ biến, giáo dục về nội dung của Luật thực hiện theo quy định của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định khác của Chính phủ.

Kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí: Cơ quan thực hiện: Bộ Tài chính, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định pháp luật. Thời gian thực hiện: Thường xuyên. Biên soạn tài liệu, hướng dẫn áp dụng, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp nhận và xử lý kiến nghị (nếu có). Cơ quan chủ trì: Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Thời gian thực hiện: Thường xuyên. Sản phẩm: Hội nghị tập huấn, tọa đàm, tài liệu hướng dẫn.

4. Đổi mới công tác đào tạo nghề ở nông thôn

Nhằm tiếp tục triển khai đường lối chiến lược của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; nâng cao vai trò của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới; để công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững và thực chất; đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn; ngày 24/02/2026, Thủ tướng cũng đã ký Quyết định số 326/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Kế hoạch nêu các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Nâng cao nhận thức xã hội về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, nâng cao dân trí và đời sống của người dân nông thôn. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Bảo đảm nguồn lực thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Cùng ngày 24/02/2026, Thủ tướng đã ký Quyết định số 328/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”. Chương trình đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, rút ngắn khoảng cách về tỷ lệ lao động qua đào tạo giữa khu vực nông thôn và thành thị. Tập trung đào tạo nhân lực có chất lượng phục vụ sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại; đào tạo để chuyển đổi một bộ phận lao động nông thôn sang làm công nghiệp, dịch vụ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và hội nhập quốc tế. Đào tạo nguồn nhân lực nông thôn gắn xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu; đào tạo thực chất, đi theo chiều sâu, hiệu quả, bền vững, lấy cư dân nông thôn làm chủ thể, đem lại chuyển biến tích cực, rõ nét hơn về chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm, thu nhập cho người dân.

Đến năm 2030, bình quân hằng năm đào tạo, đào tạo lại, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn, trong đó, đào tạo nghề phi nông nghiệp chiếm khoảng 70%, đào tạo nghề nông nghiệp, phát triển ngành nghề nông thôn chiếm khoảng 30%; số lao động nông thôn là nữ được đào tạo nghề chiếm trên 45%, người khuyết tật có nhu cầu được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm chiếm khoảng 4%, người dân tộc thiểu số trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và đặc thù của vùng dân tộc thiểu số chiếm khoảng 70%. Tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt trên 85%.

Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm: Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội và người dân về vai trò của đào tạo nghề đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới. Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu học nghề, việc làm cho lao động nông thôn. Nâng cao chất lượng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đào tạo, đào tạo lại, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho lao động nông thôn. Tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp, hợp tác xã trong tổ chức đào tạo và tạo việc làm cho lao động nông thôn. Hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện Chương trình.

5. Chương trình Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035

Chương trình Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035 được phê duyệt bởi Quyết định số 336/QĐ-TTg, ngày 25/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ, với mục tiêu hình thành văn hóa khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục; lan tỏa tinh thần và khát vọng khởi nghiệp, phát triển sản phẩm, giải pháp khởi nghiệp có giá trị, mang bản sắc Việt Nam. Tạo điều kiện để người học phát huy vai trò trung tâm sáng tạo, từng bước nâng cao năng lực làm chủ tri thức và công nghệ; khuyến khích tham gia đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh góp phần phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế tri thức và phát triển bền vững. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục đồng bộ, thực chất, với sự hỗ trợ hiệu quả từ cơ chế, chính sách của Nhà nước, dịch vụ hỗ trợ, hạ tầng, nền tảng số và vốn mồi, giúp người học vốn hóa tri thức, hình thành doanh nghiệp khởi nguồn, khởi nghiệp, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Giai đoạn 2026 - 2030, đối với cơ sở giáo dục phổ thông, 50% học sinh trung học phổ thông; 25% học sinh trung học cơ sở; 15% học sinh tiểu học được định hướng khởi nghiệp. 35% học sinh trung học phổ thông; 15% học sinh trung học cơ sở; 10% học sinh tiểu học được trang bị kiến thức, kỹ năng, tư duy khởi nghiệp. Bình quân hằng năm, tối thiểu 5% học sinh trung học phổ thông và 2% học sinh trung học cơ sở tham gia ít nhất một dự án hoặc hoạt động khởi nghiệp do cơ sở giáo dục hoặc cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức.

Đối với các cơ sở đào tạo, 100% cơ sở đào tạo ban hành và công khai quy chế hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp trên cổng thông tin; 100% cơ sở đào tạo cung cấp dịch vụ hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp với các dịch vụ tối thiểu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 85% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp hoặc tham gia tối thiểu 01 khóa học kỹ năng khởi nghiệp. Số sinh viên khởi nghiệp mới theo quy mô tối thiểu 50/10.000 sinh viên chính quy mỗi năm. Riêng đối với cơ sở đào tạo trọng điểm đạt tối thiểu 100/10.000 sinh viên.

Hằng năm, tối thiểu 40% cơ sở đào tạo duy trì và triển khai chương trình ươm tạo khởi nghiệp cho sinh viên. Ít nhất 20% cơ sở đào tạo có 20 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, 50% số dự án hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Riêng đối với cơ sở đào tạo trọng điểm đạt tối thiểu 50 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, 50% số dự án hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Về đầu tư/kết nối dự án khởi nghiệp, mỗi năm ít nhất 40 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn, trong đó ít nhất 30% dự án có nữ tham gia và ít nhất 10% dự án của học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số.

Giai đoạn 2031 - 2035, đối với cơ sở giáo dục phổ thông, 65% học sinh trung học phổ thông; 35% học sinh trung học cơ sở; 20% học sinh tiểu học được định hướng khởi nghiệp. 50% học sinh trung học phổ thông; 25% học sinh trung học cơ sở; 15% học sinh tiểu học được trang bị kiến thức, kỹ năng, tư duy khởi nghiệp. Bình quân hàng năm, tối thiểu 8% học sinh trung học phổ thông và 3% học sinh trung học cơ sở tham gia ít nhất một dự án hoặc hoạt động khởi nghiệp do cơ sở giáo dục hoặc cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức.

Đối với các cơ sở đào tạo, duy trì mức 100% cơ sở đào tạo cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 95% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp hoặc tham gia tối thiểu 01 khóa học kỹ năng khởi nghiệp. Số sinh viên khởi nghiệp mới theo quy mô tối thiểu 100/10.000 sinh viên chính quy mỗi năm. Riêng đối với cơ sở đào tạo trọng điểm tối thiểu 150/10.000 sinh viên. Hằng năm, tối thiểu 60% cơ sở đào tạo duy trì và triển khai chương trình ươm tạo khởi nghiệp cho sinh viên.

Ít nhất 30% cơ sở đào tạo có 20 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, 50% số dự án hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Riêng đối với cơ sở đào tạo trọng điểm tối thiểu 100 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, 50% số dự án hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Về đầu tư/kết nối dự án khởi nghiệp, mỗi năm ít nhất 70 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn, trong đó ít nhất 35% dự án có nữ tham gia và ít nhất 15% dự án của học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số.

Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm: Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp. Tăng cường hoạt động kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp, nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, hợp tác quốc tế. Đổi mới nội dung chương trình, đẩy mạnh công tác đào tạo thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp. Đầu tư hạ tầng, cơ sở vật chất hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục. Đa dạng hóa nguồn vốn cho chương trình, dự án khởi nghiệp.

6. Một số kết quả chuyến tham dự Cuộc họp khai mạc Hội đồng hòa bình về Gaza của Tổng Bí thư Tô Lâm

Nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, Chủ tịch Hội đồng hòa bình về Gaza, Tổng Bí thư Tô Lâm đã tham dự Cuộc họp khai mạc Hội đồng hòa bình về Gaza tại Washington D.C (Hoa Kỳ) từ ngày 18 - 20/02/2026, với tư cách thành viên sáng lập. Tham dự cuộc họp, có nguyên thủ và lãnh đạo của hơn 50 quốc gia, là các nước thành viên sáng lập và quan sát viên của Hội đồng Hòa bình. Đây là một dấu ấn đối ngoại, khẳng định vị thế, khí thế mới, hành động thiết thực để đóng góp hiệu quả cho hòa bình thế giới.

Việc Việt Nam tham gia Hội đồng Hòa bình là cụ thể hóa đường lối đối ngoại theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế; khẳng định quan điểm và tư tưởng của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã trải qua nhiều hy sinh, mất mát của chiến tranh, một dân tộc luôn phấn đấu cho hòa bình. Việt Nam sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với các thành viên Hội đồng Hòa bình về Gaza tham gia trong khả năng của mình vào các nỗ lực chung nhằm hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp, tái thiết cơ sở hạ tầng thiết yếu và xây dựng lòng tin giữa các bên.

Trong chuyến công tác, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có cuộc gặp Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump; trao đổi với lãnh đạo cấp cao các nước, trong đó có lãnh đạo của các quốc gia tại khu vực Trung Đông; tiếp Trưởng đại diện Thương mại Hoa Kỳ - Đại sứ Jamieson Greer, điện đàm với các nghị sĩ Hoa Kỳ, gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tại các cuộc gặp, Tổng Bí thư và các đồng chí thành viên trong đoàn đã thông tin về tình hình Việt Nam, kết quả của quá trình đổi mới trong 40 năm qua, trong đó có 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII với các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2045. Tổng Bí thư cũng chia sẻ các phương hướng phát triển của Việt Nam và đường lối đối ngoại của Việt Nam, tiếp tục thúc đẩy quan hệ với các đối tác, trong đó có quan hệ với nước chủ nhà Hoa Kỳ, phù hợp với khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện. Các đối tác đều nhất trí tăng cường quan hệ song phương thực chất, hiệu quả với Việt Nam.

Dư luận quốc tế đánh giá việc Việt Nam tham gia Hội đồng Hòa bình thể hiện rõ đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam: mong muốn đóng góp cho hòa bình và phát triển của thế giới. Điều này tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và vai trò ngày càng nâng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

7. Một số nét chính về kinh tế thế giới những tháng đầu năm 2026

Trong những tháng đầu năm 2026, môi trường địa chính trị quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp và khó dự báo, với sự gia tăng các điểm nóng an ninh và cạnh tranh địa kinh tế giữa các cường quốc. Đáng chú ý, căng thẳng quân sự tại Trung Đông đầu tháng 3/2026 làm gia tăng nguy cơ xung đột lan rộng, đặc biệt liên quan đến eo biển Hormuz - tuyến vận tải năng lượng chiến lược trung chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu. Các tổ chức quốc tế cảnh báo nếu xung đột kéo dài và ảnh hưởng đến vận tải qua khu vực này, kinh tế thế giới có thể chịu tác động đáng kể thông qua kênh giá năng lượng, làm gia tăng áp lực lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô.

Cạnh tranh địa kinh tế giữa các nền kinh tế lớn tiếp tục gia tăng khi nhiều quốc gia đẩy mạnh các biện pháp bảo đảm an ninh kinh tế và kiểm soát nguồn lực chiến lược. Trung Quốc áp dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với một số khoáng sản và vật liệu chiến lược, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ phân mảnh chuỗi cung ứng nguyên liệu toàn cầu, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao và công nghiệp quốc phòng. Sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ phần lớn chính sách thuế quan đối ứng trước đó, Mỹ triển khai mức thuế quan toàn cầu khoảng 10% đối với hàng hóa nhập khẩu, đồng thời vẫn bỏ ngỏ khả năng tăng thuế đối với một số đối tác thương mại.

Căng thẳng địa chính trị gia tăng đã tác động đến tâm lý thị trường và các biến số kinh tế vĩ mô toàn cầu. Xu hướng phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư ngày càng rõ rệt, thể hiện qua sự dịch chuyển dòng vốn sang các tài sản an toàn. Trên thị trường tài chính, dòng vốn có xu hướng chảy vào kim loại quý như vàng, khiến giá vàng tăng mạnh trong những tháng đầu năm 2026. Thị trường chứng khoán toàn cầu chịu áp lực điều chỉnh, trong bối cảnh lo ngại xung đột tại Trung Đông và khả năng giá năng lượng tăng cao. Trên thị trường năng lượng, giá dầu thế giới tăng đáng kể do lo ngại gián đoạn nguồn cung từ Trung Đông. Nhiều tổ chức quốc tế cảnh báo nếu hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz bị gián đoạn kéo dài, giá dầu có thể tăng mạnh và gây ra cú sốc năng lượng đối với kinh tế toàn cầu, qua đó làm gia tăng rủi ro lạm phát và áp lực đối với chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn.

Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu vẫn tiềm ẩn rủi ro, các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng nhằm cân bằng giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng. Tại Mỹ, số liệu của Cục Thống kê lao động cho thấy chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 1/2026 tăng khoảng 0,5% so với tháng trước, cao hơn dự báo thị trường, cho thấy áp lực lạm phát vẫn chưa được kiểm soát hoàn toàn, củng cố lập trường thận trọng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đối với việc cắt giảm lãi suất. Trong khi đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) duy trì lãi suất cho vay cơ bản (LPR) 3,0% đối với kỳ hạn 1 năm và 3,5% đối với kỳ hạn 5 năm nhằm hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh nhu cầu nội địa còn yếu. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đang từng bước điều chỉnh chính sách tiền tệ theo hướng bình thường hóa sau giai đoạn nới lỏng kéo dài, dù điều kiện tài chính nhìn chung vẫn mang tính hỗ trợ.

Theo cập nhật của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong Báo cáo World Economic Outlook Update đầu năm 2026, kinh tế thế giới được dự báo duy trì tăng trưởng tương đối ổn định trong trung hạn, dù vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro địa chính trị, tài chính và thương mại. IMF dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt khoảng 3,3% năm 2026 và 3,2% năm 2027, tương đương mức trung bình trước đại dịch. Tuy nhiên, tăng trưởng tiếp tục phân hóa giữa các nhóm quốc gia. Các nền kinh tế phát triển được dự báo tăng trưởng khoảng 1,7 - 1,8%, do tác động kéo dài của lãi suất cao, dân số già hóa và năng suất chậm cải thiện; trong đó Mỹ khoảng 2 - 2,4%, khu vực đồng Euro khoảng 1,5 - 1,6%. Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (EMDEs) được dự báo tăng trưởng khoảng 4,5% năm 2026 và khoảng 4% năm 2027, tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng toàn cầu. Ấn Độ duy trì tốc độ tăng trưởng cao khoảng 6,4%/năm, nhờ cải cách kinh tế, mở rộng đầu tư hạ tầng và dịch chuyển chuỗi cung ứng. Trung Quốc dự kiến tăng trưởng 4 - 4,5%, thấp hơn giai đoạn trước do các thách thức cơ cấu như khủng hoảng bất động sản, già hóa dân số và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong khi đó, khu vực ASEAN được kỳ vọng tăng trưởng khoảng 4,2 - 4,4%, nhờ tiêu dùng nội địa, dòng vốn đầu tư nước ngoài và hội nhập kinh tế sâu rộng.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh kinh tế thế giới năm 2026 còn nhiều biến động, các xu hướng trên sẽ tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông và nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng có thể làm giá dầu thế giới tăng, tác động đến chi phí sản xuất, vận tải và áp lực lạm phát trong nước. Đồng thời, những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, đặc biệt các biện pháp thuế quan mới, có thể ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Mặc dù xu hướng bảo hộ thương mại làm gia tăng rủi ro đối với thương mại toàn cầu, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng quốc tế cũng mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút thêm đầu tư và mở rộng xuất khẩu, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến và công nghệ.

8. Xung đột tại Trung Đông và tác động đối với an ninh toàn cầu

Trung Đông từ lâu được xem là một trong những khu vực địa chính trị phức tạp và nhạy cảm nhất thế giới. Nằm tại điểm giao thoa giữa ba châu lục Á - Âu - Phi và sở hữu khoảng trên 50% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu, khu vực này luôn là tâm điểm cạnh tranh lợi ích giữa các cường quốc. Bên cạnh yếu tố năng lượng, Trung Đông còn tồn tại nhiều mâu thuẫn lịch sử liên quan đến lãnh thổ, sắc tộc, tôn giáo và quyền tự quyết của các dân tộc, đặc biệt là xung đột Israel - Palestine và sự đối đầu giữa Israel với Iran. Sự khác biệt giữa các tôn giáo lớn như Do Thái giáo, Hồi giáo, Kitô giáo và sự phân hóa trong nội bộ Hồi giáo giữa hai dòng Sunni - Shia càng làm cấu trúc an ninh khu vực trở nên phức tạp.

Trong nhiều thập niên, Trung Đông giữ vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Mỹ duy trì ảnh hưởng thông qua các đồng minh chiến lược như Israel và nhiều quốc gia Arab, cùng mạng lưới căn cứ quân sự rộng khắp và hệ thống thanh toán dầu mỏ bằng USD (Petrodollar), qua đó củng cố vai trò chi phối đối với trật tự kinh tế - năng lượng khu vực. Tuy nhiên, sự can dự của các cường quốc cùng những mâu thuẫn nội tại khiến Trung Đông luôn tiềm ẩn nguy cơ xung đột.

Quan hệ giữa Iran với Mỹ và Israel từng gắn bó dưới thời Quốc vương Mohammad Reza Pahlavi, nhưng sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979, Iran chuyển sang đối đầu mạnh mẽ với hai nước này. Sự kiện bắt giữ con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran (Iran) năm 1979 đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ. Từ thập niên 1980, Iran xây dựng mạng lưới lực lượng ủy nhiệm tại khu vực như Hezbollah, Hamas và Houthi, hình thành “trục kháng chiến” nhằm đối phó với Mỹ và Israel.

Bước sang thế kỷ XXI, chương trình hạt nhân và năng lực tên lửa của Iran trở thành tâm điểm căng thẳng. Mỹ và Israel coi đây là mối đe dọa chiến lược, trong khi Iran khẳng định mục đích hòa bình. Nhiều chiến dịch bí mật, ám sát nhà khoa học hạt nhân và các cuộc tấn công vào cơ sở quân sự - hạt nhân của Iran trong giai đoạn 2010 - 2025 đã làm gia tăng đáng kể mức độ đối đầu trong khu vực.

Căng thẳng leo thang mạnh vào cuối tháng 02/2026, khi Mỹ và Israel tiến hành cuộc tấn công quân sự quy mô lớn nhằm vào Iran, sử dụng hàng trăm máy bay chiến đấu và hàng nghìn tên lửa tấn công các mục tiêu chiến lược như cơ quan đầu não, hệ thống phòng không, căn cứ quân sự và cơ sở hạt nhân. Đòn tấn công mang tính “phủ đầu” này gây tổn thất lớn đối với bộ máy lãnh đạo và tiềm lực quân sự của Iran, đánh dấu bước leo thang nghiêm trọng chưa từng có trong xung đột giữa các bên. Đáp lại, Iran nhanh chóng triển khai chiến lược phản công với cường độ cao, sử dụng hàng loạt tên lửa và máy bay không người lái (UAV) tấn công vào lãnh thổ Israel cũng như nhiều căn cứ quân sự của Mỹ tại Trung Đông. Đồng thời, các lực lượng thuộc “trục kháng chiến” cũng tham gia phối hợp tác chiến từ nhiều hướng, khiến chiến trường mở rộng trên phạm vi toàn khu vực.

Cuộc xung đột tại Trung Đông tạo ra những dư chấn sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, tác động mạnh đến cấu trúc an ninh khu vực. Nhiều quốc gia Trung Đông rơi vào thế lưỡng nan giữa việc duy trì quan hệ với Mỹ và tránh bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh. Các cường quốc ngoài khu vực như Nga, Trung Quốc và Ấn Độ bày tỏ quan ngại sâu sắc, kêu gọi các bên kiềm chế và thúc đẩy giải pháp ngoại giao. Đồng thời, nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu mỏ toàn cầu, đặc biệt trong trường hợp Iran phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển năng lượng quan trọng bậc nhất thế giới - làm gia tăng lo ngại về những tác động nghiêm trọng đối với kinh tế và thị trường năng lượng toàn cầu.

Trước tình hình leo thang căng thẳng tại Trung Đông hiện nay, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 28/02/2026 nhấn mạnh: Việt Nam quan ngại sâu sắc về tình hình xung đột leo thang phức tạp tại khu vực Trung Đông, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng và an toàn của người dân, cũng như hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan kiềm chế tối đa, chấm dứt ngay các hành động làm gia tăng căng thẳng, bảo vệ dân thường và các cơ sở hạ tầng thiết yếu, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, Hiến chương và các nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nỗ lực đàm phán hòa bình vì an ninh, ổn định của khu vực và thế giới.

Tiếp đó ngày 05/3/2026, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: Lập trường của Việt Nam đã được nêu rõ ngày 28/02/2026. Việt Nam phản đối các hành vi sử dụng vũ lực tấn công vào các quốc gia có chủ quyền, đặc biệt vào các cơ sở hạ tầng dân sự khiến nhiều người dân bị thiệt mạng. Các hành động này đã gây thiệt hại nghiêm trọng và tiếp tục đe dọa tính mạng, an toàn và lợi ích của người dân, trong đó có công dân Việt Nam tại khu vực, gây bất ổn cho các hoạt động kinh tế, hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan hành động có trách nhiệm, tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, Hiến chương và các nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, nối lại đàm phán, tạo điều kiện thuận lợi cho đối thoại hướng tới việc giải quyết các khác biệt bằng biện pháp hòa bình, vì lợi ích của người dân, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Bộ Ngoại giao cũng khuyến cáo công dân Việt Nam tại Iran, Israel và các quốc gia lân cận chủ động theo dõi tình hình, thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn. Trong trường hợp khẩn cấp hoặc gặp khó khăn, công dân Việt Nam cần liên hệ ngay với các đường dây nóng bảo hộ công dân 24/7 của các cơ quan đại diện Việt Nam tại Iran, Israel và các khu vực lân cận, hoặc Tổng đài Bảo hộ công dân của Bộ Ngoại giao Việt Nam để được hỗ trợ kịp thời.

9. Cuộc cạnh tranh trí tuệ nhân tạo giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những lĩnh vực công nghệ có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Nhiều nước lớn đã ban hành chiến lược quốc gia về AI, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, xây dựng hạ tầng công nghệ và thúc đẩy ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Trong xu thế đó, Mỹ và Trung Quốc được xem là hai trung tâm công nghệ lớn, có vai trò quan trọng trong việc định hình cục diện phát triển AI trên thế giới.

Tháng 7/2025, Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố kế hoạch hành động về trí tuệ nhân tạo nhằm củng cố vị thế công nghệ của Mỹ trong lĩnh vực này. Văn kiện nhấn mạnh rằng quốc gia nắm ưu thế trong AI có thể tạo ra lợi thế đáng kể về kinh tế, khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cạnh tranh trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo không chỉ diễn ra trong một lĩnh vực đơn lẻ mà trải rộng trên nhiều khâu của hệ sinh thái công nghệ, từ phát triển mô hình AI tiên tiến, xây dựng hạ tầng tính toán như trung tâm dữ liệu và chip bán dẫn, đến định hình tiêu chuẩn công nghệ và triển khai ứng dụng AI trong các hệ thống vật lý như robot, nhà máy và phương tiện giao thông. Điều này cho thấy mỗi quốc gia có thể đạt lợi thế ở những khâu khác nhau của chuỗi giá trị công nghệ.

Đáng chú ý là việc Mỹ điều chỉnh chính sách xuất khẩu chip AI. Tháng 12/2025, Tổng thống Donald Trump tuyên bố cho phép bán chip H200 của Nvidia - một trong những dòng chip AI có hiệu năng cao cho một số khách hàng được chấp thuận tại Trung Quốc. Quyết định này được cho là nhằm tạo thêm nguồn thu cho các doanh nghiệp công nghệ Mỹ và duy trì ảnh hưởng của các tiêu chuẩn công nghệ do Mỹ phát triển. Tuy nhiên, động thái này cũng đặt ra nhiều đánh giá khác nhau về tác động đối với cán cân công nghệ toàn cầu, khi các doanh nghiệp Mỹ tiếp tục giữ vị thế mạnh trong các dịch vụ AI tiên tiến, còn các doanh nghiệp Trung Quốc có thể mở rộng ứng dụng AI với chi phí thấp hơn trong sản xuất và hạ tầng.

Trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển mô hình AI, các doanh nghiệp công nghệ Mỹ như OpenAI, Google và Anthropic đã xây dựng nhiều hệ thống có khả năng xử lý ngôn ngữ tự nhiên, phân tích dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định với độ chính xác cao. Những hệ thống này trở thành nền tảng cho nhiều dịch vụ số như trợ lý ảo, quản trị nền tảng điện toán đám mây, phần mềm năng suất và dịch vụ khách hàng. Tuy vậy, khoảng cách công nghệ đang dần thu hẹp khi các doanh nghiệp công nghệ Trung Quốc như DeepSeek, Alibaba hay Moonshot AI tăng cường đầu tư nghiên cứu. Trong nhiều ứng dụng phổ biến như soạn thảo văn bản, tóm tắt thông tin, dịch thuật hoặc hỗ trợ lập trình, sự khác biệt giữa các hệ thống AI hàng đầu ngày càng giảm.

Bên cạnh nghiên cứu mô hình, năng lực tính toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của AI. Việc huấn luyện và vận hành các mô hình AI quy mô lớn đòi hỏi hạ tầng điện toán rất lớn, bao gồm chip xử lý chuyên dụng, trung tâm dữ liệu và nguồn năng lượng ổn định. Trong lĩnh vực này, Mỹ hiện vẫn nắm giữ nhiều lợi thế khi các doanh nghiệp công nghệ của nước này kiểm soát phần lớn năng lực tính toán AI toàn cầu và tiếp tục đầu tư mạnh vào trung tâm dữ liệu cũng như hạ tầng điện toán.

Trong khi đó, Trung Quốc vẫn đang đẩy mạnh phát triển công nghệ bán dẫn, xây dựng hạ tầng phục vụ AI và mở rộng ứng dụng trong sản xuất. Nước này có lợi thế về quy mô dữ liệu, nguồn nhân lực công nghệ và khả năng triển khai hạ tầng với tốc độ nhanh. Một xu hướng đáng chú ý là việc tích hợp AI vào các hệ thống hoạt động trong môi trường vật lý, thường được gọi là AI hiện thân, bao gồm robot công nghiệp, phương tiện tự hành và các thiết bị thông minh. Trong lĩnh vực này, Trung Quốc đang thúc đẩy mạnh mẽ tự động hóa và robot hóa trong sản xuất, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của các nhà máy.

Nhìn tổng thể, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo trên thế giới đang diễn ra theo xu hướng đa lĩnh vực và đa trung tâm. Các quốc gia có thể đạt được lợi thế ở những khâu khác nhau của chuỗi giá trị công nghệ, từ nghiên cứu mô hình, phát triển hạ tầng tính toán đến triển khai ứng dụng trong sản xuất và dịch vụ. Trong thời gian tới, AI được dự báo sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ và trở thành động lực quan trọng của chuyển đổi số và đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời góp phần định hình cục diện công nghệ toàn cầu.

 

III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

Nghị định số 31/2026/NĐ-CP, ngày 21/01/2026 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/3/2026.

Nghị định gồm 04 Chương, 22 Điều quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ, bao gồm: hành vi vi phạm hành chính về thực hiện nghiệp vụ lưu trữ và về hoạt động dịch vụ lưu trữ; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể của các chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lưu trữ. Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến tài liệu bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình. Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực lưu trữ không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.

Theo đó, đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm:

- Tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Tổ chức là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này bao gồm: cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm hành chính mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước về lưu trữ; đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã; các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.

Theo Nghị định, các hình thức xử phạt chính trong lĩnh vực lưu trữ bao gồm:  cảnh cáo và phạt tiền, trong đó mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 30 triệu đồng, đối với tổ chức là 60 triệu đồng. Ngoài ra, hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề lưu trữ có thời hạn từ 03 đến 06 tháng. Nghị định cũng quy định nhiều biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục tình trạng ban đầu, bảo đảm an toàn, toàn vẹn của tài liệu lưu trữ.

Nghị định quy định cụ thể các hành vi vi phạm và mức xử phạt tương ứng, tập trung vào các nhóm hành vi như: vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lưu trữ; vi phạm quy định về thu nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ hiện hành và lưu trữ lịch sử; vi phạm quy định về chỉnh lý, bảo quản, hủy và sử dụng tài liệu lưu trữ; vi phạm quy định về số hóa tài liệu, tạo lập cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng Chứng chỉ hành nghề lưu trữ và Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ.

Nghị định quy định mức phạt cao đối với các hành vi xâm hại nghiêm trọng đến tài liệu lưu trữ như: mang tài liệu lưu trữ ra ngoài trái phép; truy cập, sao chép, chia sẻ, mua bán, hủy tài liệu lưu trữ trái phép; làm mất, làm hỏng hoặc làm sai lệch nội dung tài liệu lưu trữ. Đối với lĩnh vực số hóa và quản lý dữ liệu lưu trữ, Nghị định bổ sung nhiều quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, phòng ngừa nguy cơ mất mát, thất thoát dữ liệu.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thanh tra các bộ, ngành, Giám đốc Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ kiểm tra trong lĩnh vực lưu trữ, bảo đảm phù hợp với quy mô, tính chất, mức độ vi phạm và yêu cầu quản lý nhà nước.

 

[1] Các luận điệu xuyên tạc, sai lệch các thế lực thù địch sử dụng trong chiến dịch truyền thông xuất hiện trên mạng xã hội, blog cá nhân và một số trang truyền thông thiếu thiện chí như: “Không nên đi bỏ phiếu vì bầu cử không có ý nghĩa”; “Tẩy chay bầu cử là cách thể hiện quan điểm chính trị”; “Cử tri không thực sự quan tâm đến bầu cử”; Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử bị thổi phồng;…

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy

Admin Ban Tuyên giáo
Tin tức sự kiện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0