Thông tin, tư liệu phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 02 năm 2026

Chỉ thị số 01-CT/TW, ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện Đại hội (sau đây gọi chung là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng). Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; có giá trị định hướng và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội, góp phần hiện thực hoá niềm tin và khát vọng của cả dân tộc vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Để Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được triển khai ngay, đồng bộ, hiệu quả, thực chất, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:

Một là, xác định việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026 và cả nhiệm kỳ, phải được thực hiện nghiêm túc, bài bản, khoa học; đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả Nghị quyết, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận của Nhân dân, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhằm góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hai là, nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng bao gồm: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) và đề xuất, định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng.

Ba là, các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, thực hiện thường xuyên, liên tục trong cả nhiệm kỳ; kịp thời cập nhật và bổ sung Chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ, chi bộ ở từng cấp gắn với chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị, thể hiện sự quyết tâm, đổi mới sáng tạo, bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả. Kết quả thực hiện Chương trình hành động là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, đánh giá tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, người đứng đầu hằng năm và cả nhiệm kỳ. Thời gian hoàn thành Chương trình hành động trong quý I/2026.

Bốn là, tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng phải được tiến hành ngay, đồng bộ, thường xuyên, phong phú, sinh động, kết hợp hài hòa giữa phương thức truyền thống với phát huy hiệu quả các ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số. Kết hợp tự nghiên cứu với nghe phổ biến, đổi mới mạnh mẽ tư duy từ “học tập, quán triệt” sang “hiểu sâu - hành động đúng - làm đến cùng” trong từng bước triển khai.

Nội dung tuyên truyền tập trung về thành công của Đại hội, những nội dung cốt lõi, đổi mới của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức trong giai đoạn tới; định hướng dư luận xã hội gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; phản ánh kịp thời, đầy đủ, toàn diện việc triển khai thực hiện Nghị quyết tới các tầng lớp nhân dân trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài, góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

 

I. TIN THÀNH PHỐ

1. Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về xây dựng và triển khai thực hiện một số mô hình Chủ nghĩa xã hội gắn với con người Xã hội chủ nghĩa tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 14/01/2026 về xây dựng và triển khai thực hiện một số mô hình Chủ nghĩa xã hội gắn với con người Xã hội chủ nghĩa tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 – 2030 và những năm tiếp theo.

Nghị quyết xác định mục tiêu chung xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố “VĂN MINH - HẠNH PHÚC” - hình mẫu tiêu biểu của mô hình Chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, giàu mạnh và thịnh vượng của dân tộc, nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố: kinh tế phát triển cao và bền vững; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; con người được phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần; cộng đồng đoàn kết, nhân văn, có bản sắc văn hóa riêng; chính quyền hiện đại, hoạt động minh bạch, hiệu quả, vì Nhân dân phục vụ.

Trên cơ sở đó, Nghị quyết đề ra các mục tiêu cụ thể là đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực quản trị của hệ thống chính trị, hướng đến chính quyền hiện đại - kiến tạo - phục vụ - minh bạch; thực hiện dân chủ thực chất, người dân là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển. Phát triển kinh tế hiện đại, xanh - tuần hoàn - số, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội bền vững, không ai bị bỏ lại phía sau. Xây dựng môi trường đô thị, nông thôn sáng, xanh, sạch, an toàn, nhân văn, phát triển hệ thống phúc lợi công bằng tiếp cận dịch vụ công, cơ hội phát triển cho mọi người. Bảo đảm quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả; nâng cao vị thế và hình ảnh của thành phố trên trường quốc tế. Xây dựng thế hệ công dân Hải Phòng có tri thức - đạo đức - ý thức công dân - tinh thần cống hiến; phát triển hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa làm nền tảng nâng cao tầm vóc con người về mọi mặt.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Nghị quyết xác định tập trung triển khai thực hiện 11 mô hình trọng tâm gồm: (1) Chính quyền thân thiện; (2) Thành phố thượng tôn và tuân thủ pháp luật; (3) Thành phố văn minh; xã, phường hạnh phúc; (4) Thành phố đổi mới sáng tạo; (5) Cụm công nghiệp sinh thái; (6) Nhà ở xã hội chủ nghĩa tại Hải Phòng: Công bằng, nhân văn, đoàn kết; (7) Thành phố âm nhạc; (8) Cơ sở kinh doanh dịch vụ thân thiện với môi trường, không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần tại các điểm du lịch; (9) Thành phố chăm sóc sức khỏe toàn dân, toàn diện; (10) Trường học xã hội chủ nghĩa; (11) Chi đoàn XHCN gắn với Đoàn viên XHCN. Trên thực tế, căn cứ đặc điểm tình hình, nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của mình, các địa phương, đơn vị có thể chủ động lựa chọn triển khai các mô hình (ngoài 11 mô hình nêu trên) đảm bảo tính khả thi, dễ thực hiện, thu hút được sự tham gia vào cuộc của đông đảo Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, nhằm sớm đạt được mục tiêu xây dựng từng tiêu chí trong bộ tiêu chí xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 – 2030 và những năm tiếp theo.

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố yêu cầu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố tăng cường tuyên truyền, vận động; phát huy vai trò của công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, cựu công an Nhân dân, người cao tuổi; chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo, người Hải Phòng ở trong và người nước tham gia xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng. Thực hiện giám sát và phản biện xã hội trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết, Đề án và các chủ trương, cơ chế, chính sách có liên quan.

Đảng ủy các xã, phường, đặc khu; đảng ủy trực thuộc Thành ủy tổ chức quán triệt, triển khai, ban hành kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, Đề án, các mô hình của thành phố; bổ sung các mô hình theo đặc thù riêng của xã, phường, đặc khu và cấp mình để tổ chức thực hiện gắn với triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố và nghị quyết đại hội đảng bộ địa phương, đơn vị.

Các cơ quan báo chí, truyền thông trên địa bàn thành phố đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về CNXH, con đường đi lên CNXH, con người XHCN và mô hình CNXH gắn với con người XHCN tại thành phố, lan tỏa các giá trị tích cực trong cộng đồng.

2. Kế hoạch của Ban thường vụ Thành uỷ về thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khoá XIII) năm 2026

Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Kế hoạch số 22-KH/TU, ngày 16/01/2026 về thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” năm 2026 nhằm tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo các hướng dẫn, kế hoạch của Trung ương và thành phố, góp phần thiết thực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập năm 2026 của thành phố; xây dựng tổ chức đảng, chính quyền và hệ thống chính trị các cấp trong sạch, vững mạnh; triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Chuyên đề năm 2026 được xác định là “Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tiếp tục nâng cao đời sống Nhân dân và xây dựng Chủ nghĩa xã hội gắn với con người Xã hội chủ nghĩa tại thành phố Hải Phòng”. Trong quá trình tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền và thực hiện Chuyên đề năm 2026 cần gắn với nội dung Chuyên đề toàn khóa “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Trung ương.

Các xã, phường, đặc khu, các đảng ủy trực thuộc Thành ủy bám sát chủ đề và nhiệm vụ trọng tâm của thành phố và địa phương, đơn vị để xây dựng Kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2026 phù hợp với địa phương, đơn vị. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Chuyên đề năm 2026 đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đồng thời, căn cứ nội dung Chuyên đề năm 2026 và yêu cầu thực tiễn của địa phương, đơn vị, chỉ đạo lựa chọn 01 đến 02 nhiệm vụ trọng tâm mang tính đột phá gắn với các nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ của địa phương, đơn vị và Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030. Chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc hướng dẫn cán bộ, đảng viên liên hệ bản thân, đề ra phương hướng, giải pháp phấn đấu làm theo; chọn một số nội dung cụ thể, đăng ký thực hiện, cuối năm báo cáo kết quả thực hiện với chi bộ; xác định đây là một trong những tiêu chí để đánh giá cán bộ, đảng viên cuối năm.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố xây dựng hướng dẫn, tổ chức học tập Chuyên đề năm 2026 của thành phố đối với các tổ chức thành viên và trong đoàn viên, hội viên. Báo và phát thanh, truyền hình Hải Phòng xây dựng các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sâu rộng nội dung và kết quả triển khai Chuyên đề năm 2026.

Ban Thường vụ Thành uỷ yêu cầu các cấp ủy các cấp đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào kế hoạch, chương trình công tác. Trong đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá, giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của địa phương, đơn vị. Triển khai hiệu quả các mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa của thành phố, địa phương. Thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực đạo đức chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới theo Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị gắn với các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trên các lĩnh vực hoạt động, công tác được ngành, cơ quan, đơn vị xây dựng.

Các cấp ủy đảng xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát; tiến hành kiểm tra, giám sát, khảo sát việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2026 gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XI, XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; Quy định số 144-QĐ/TU, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/01/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Đẩy mạnh tuyên truyền những nội dung cốt lõi, khẳng định giá trị, ý nghĩa thời đại của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng hiện nay; tuyên truyền Chuyên đề năm 2026 của Hải Phòng nói riêng gắn với tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/01/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Nghị quyết về xây dựng, triển khai thực hiện một số mô hình chủ nghĩa xã hội và con người xã hội chủ nghĩa tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2025- 2030 và những năm tiếp theo; kỷ niệm 136 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026).

Tuyên truyền, tôn vinh về gương “người tốt, việc tốt”, tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, về trách nhiệm gương mẫu của người đứng đầu các cấp để lan tỏa ý nghĩa, giá trị cao đẹp của việc học tập và làm theo Bác, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; phê bình, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm, bệnh hình thức; đấu tranh, phản bác các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, phủ định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh hoạt động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”…

3. Chỉ thị của Ban Thường vụ Thành uỷ về việc tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026

Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chỉ thị số 05-CT/TU, ngày 08/01/2026 về việc tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026, trong đó yêu cầu các cấp ủy trực thuộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, các sở, ban, ngành thành phố và các địa phương, đơn vị thực hiện tốt việc tăng cường đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ, đồng thuận trong xã hội, phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân, tinh thần “tương thân, tương ái” của dân tộc, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, Hỗ trợ, tạo điều kiện, huy động các nguồn lực giúp đỡ, chăm lo cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế, gia đình chính sách, công nhân, người lao động mất việc làm, người cao tuổi neo đơn, trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn,... bảo đảm mọi nhà, mọi người dân đều được vui Xuân, đón Tết.

Tổ chức tốt việc thăm hỏi, chúc tết thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với nước, cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo tiêu biểu, các đơn vị lực lượng vũ trang, lực lượng thường trực làm nhiệm vụ trong những ngày Tết, nhất là ở vùng biển, hải đảo, vùng khó khăn, địa bàn phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thực hiện tốt công tác quản lý và tổ chức lễ hội theo quy định, bảo đảm các hoạt động lễ hội, vui xuân, kỷ niệm ngày truyền thống, hội nghị tổng kết năm, gặp mặt đầu năm, Tết trồng cây ... thiết thực, an toàn, tiết kiệm, phù hợp với nếp sống văn minh, truyền thống văn hóa của dân tộc và phong tục, tập quán tốt đẹp của từng địa phương.

Tăng cường công tác phòng, chống lãng phí, tiêu cực; không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; không tổ chức đoàn của thành phố thăm, chúc Tết cấp ủy, chính quyền các địa phương; nghiêm cấm việc dùng công quỹ biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức; không tham gia các hoạt động mê tín dị đoan; cán bộ lãnh đạo các cấp chỉ được dự lễ chùa, lễ hội khi được phân công (trừ việc tham gia với danh nghĩa cá nhân); không sử dụng ngân sách nhà nước, phương tiện, tài sản công trái quy định. Thực hiện nghiêm quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và những điều đảng viên không được làm, nhất là quy định về không điều khiển phương tiện giao thông khi đã sử dụng rượu, bia. Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải thật sự nêu gương trong việc thực hiện vui xuân, đón Tết lành mạnh, an toàn, tiết kiệm.

Chú trọng bảo đảm quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an toàn trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm các loại tội phạm, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, các sự kiện chính trị, đối ngoại, văn hóa, xã hội trên địa bàn thành phố. Thực hiện đồng bộ các giải pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ, quản lý thị trường, ổn định giá cả, bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa, dịch vụ, bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh. Quan tâm chỉnh trang đô thị, các tuyến phố, đường làng, ngõ xóm, khu dân cư bảo đảm sáng, xanh, sạch, đẹp. Chủ động có kế hoạch bảo đảm phương tiện giao thông công cộng để Nhân dân đi lại thuận lợi, an toàn trong dịp Tết. Tăng cường hướng dẫn, tuần tra, kiểm soát, chủ động rà soát, bổ sung, hoàn thiện các phương án, điều kiện bảo đảm về trật tự, an toàn giao thông, về phòng, chống cháy, nổ, dịch bệnh, tai nạn, thương tích... nhất là tại các khu vực dân cư, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Thực hiện nghiêm các quy định về quản lý, sử dụng pháo và vật liệu nổ, không để xảy ra tình trạng sản xuất, buôn bán, sử dụng trái phép gây mất an ninh, an toàn trong dịp Tết.

Tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng gắn với các hoạt động vui xuân, đón Tết, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, tin tưởng, tự hào trong toàn xã hội. Tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về những thành tựu của đất nước, thành phố và các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân, hoạt động văn hoá, thể thao, lễ hội trong dịp Tết, bảo đảm đón Tết vui tươi, an toàn, lành mạnh; chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, làm thất bại các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; đồng thời nâng cao ý thức tự giác của người dân trong chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông, sử dụng pháo và vật liệu nổ; phòng, chống dịch bệnh.

Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nghiêm túc quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 55-CT/TW của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026 và Chỉ thị này, góp phần thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu, kế hoạch đề ra; tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị ngay từ những ngày đầu năm 2026 và chăm lo tết Nguyên đán Bính Ngọ cho Nhân dân.

Các ban, sở, ngành, đơn vị, địa phương có kế hoạch cụ thể, bố trí cán bộ, nhân viên trực Tết, kịp thời xử lý, giải quyết hiệu quả mọi công việc, tình huống phát sinh; thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo trong dịp nghỉ Tết; phải bảo đảm trở lại làm việc bình thường ngay sau đợt nghỉ Tết; chỉ đạo bảo đảm công tác vệ sinh môi trường; thực hiện treo cờ Tổ quốc, trang trí khánh tiết phù hợp, trang trọng, tiết kiệm. Tập trung triển khai mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ công tác năm 2026 ngay từ đầu năm; tăng tốc, bứt phá thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2026 và cả nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, vươn mình phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

4. Thông báo ý kiến của Thường trực Thành ủy về việc điều chỉnh đối tượng cấp báo in Hải Phòng hằng ngày; nâng cao chất lượng đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng

Để việc thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 28/12/1996 của Bộ Chính trị; Kết luận số 29-KL/TW, ngày 25/8/2012 của Ban Bí thư và Thông báo số 173-TB/TW, ngày 06/04/2020 kết luận của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 28/12/1996 của Bộ Chính trị khóa VIII về việc mua và đọc báo, tạp chí của Đảng đạt hiệu quả cao trong tình hình mới, góp phần nâng cao chất lượng đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng, Thường trực Thành ủy yêu cầu:

(1). Điều chỉnh việc cấp ấn phẩm báo in Hải Phòng hằng ngày theo Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 28/12/1996 của Bộ Chính trị; bảo đảm thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí, phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, từ ngày 01/01/2026, thực hiện cấp báo in Hải Phòng hằng ngày như sau:

- Về đối tượng được cấp báo: Các đồng chí nguyên Thành ủy viên, Tỉnh ủy viên; Đảng ủy, HĐND, UBND các xã, phường, đặc khu; chi bộ thôn/tổ dân phố (thông qua đồng chí bí thư).

- Về kinh phí, phương thức cấp báo: Kinh phí đặt mua, trang bị báo in Hải Phòng hằng ngày cho các đối tượng nêu trên được bố trí từ nguồn ngân sách thành phố; được cấp cho Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy. Đảng ủy các xã, phường, đặc khu chỉ đạo lập danh sách các đối tượng được cấp báo tại địa phương (gồm cả các đồng chí nguyên Thành ủy viên, Tỉnh ủy viên cư trú trên địa bàn) gửi Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy thẩm định, phê duyệt. Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy chủ trì lập dự toán kinh phí đặt mua báo và phối hợp với Văn phòng Thành ủy, Sở Tài chính tham mưu bố trí kinh phí thực hiện. Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy sử dụng kinh phí được cấp để đặt mua báo với Bưu điện thành phố, Bưu điện thành phố phát hành báo tới các đối tượng.

(2). Đổi mới phương thức tiếp cận báo, tạp chí của Đảng; khuyến khích chuyển từ đọc báo, tạp chí in sang báo, tạp chí điện tử, báo, tạp chí của Đảng trên nền tảng số, ứng dụng di động; kết hợp hiệu quả giữa báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình và các nền tảng số. Nghiên cứu phát hành các ấn phẩm báo, tạp chí của Đảng đến từng chi bộ và đảng viên thông qua các Đề án, Kế hoạch chuyển đổi số trong các cơ quan đảng; bảo đảm vừa phù hợp với xu thế thay đổi phương thức tiếp nhận thông tin của người đọc hiện nay, vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số và tiết kiệm ngân sách (xem báo và các chương trình của Báo và phát thanh, truyền hình Hải Phòng tại: https://baohaiphong.vn, https://thhp.vn, kênh truyền hình THP, THP3, kênh phát thanh FM tần số 93.7 và 102.2 MHz, ứng dụng THP On; xem báo Nhân Dân tại địa chỉ: https://nhandan.vn, trên ứng dụng VneID; xem Tạp chí Cộng sản tại địa chỉ: https://tapchicongsan.org.vn).

(3). Các cấp ủy, tổ chức đảng cần nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của báo, tạp chí của Đảng, là một trong những kênh thông tin chính thống, là tài liệu sinh hoạt đảng và công tác tuyên truyền quan trọng giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao trình độ lý luận chính trị, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; động viên và cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước; góp phần nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong toàn Đảng bộ, thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng, xây dựng thành phố ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Tiếp tục nâng cao chất lượng đọc và làm theo báo Đảng. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải gương mẫu đọc, nghiên cứu báo, tạp chí của Đảng. Đưa việc đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng đi vào nền nếp và thực chất, trở thành hoạt động thường xuyên, sâu rộng, gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Duy trì nội dung “đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng” trong sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chuyên môn; lựa chọn những nội dung thiết thực từ báo, tạp chí của Đảng để trao đổi, liên hệ với nhiệm vụ chính trị, cụ thể hóa thành giải pháp công tác của cơ quan, đơn vị. Nâng cao kỹ năng đọc báo, tạp chí của Đảng cho cán bộ, đảng viên. Xây dựng và nhân rộng các mô hình “làm theo báo, tạp chí của Đảng” phù hợp với từng lĩnh vực, đối tượng. Chủ động chia sẻ bài viết trên báo, tạp chí của Đảng lên các kênh thông tin nội bộ (cổng/trang thông tin điện tử, nhóm mạng xã hội) của cơ quan, đơn vị.

Quan tâm công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng ở các cấp. Kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng kinh phí mua báo, tạp chí của Đảng, bảo đảm đúng mục đích, hiệu quả; tránh tình trạng đặt mua, được cấp báo nhưng không sử dụng. Biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả trong đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng.

(4). Đảng ủy Ủy ban nhân dân thành phố, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy, Đảng ủy các xã, phường, đặc khu và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm triển khai thực hiện tốt nội dung Thông báo này. Giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc đổi mới phương thức tiếp cận, nâng cao chất lượng đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng; tham mưu, báo cáo Thường trực Thành ủy các vấn đề phát sinh (nếu có) trong thực hiện cấp báo, đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng để chỉ đạo kịp thời.

5. Hướng dẫn thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” năm 2026

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy đã ban hành Hướng dẫn số 12-HD/BTGDVTU, ngày 10/01/2026 về việc thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên địa bàn thành phố năm 2026. 

Hướng dẫn được ban hành nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, sở, ngành, cơ quan, đơn vị, trường học, doanh nghiệp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Qua đó, phát huy vai trò, trách nhiệm và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; huy động các tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Theo Hướng dẫn, mỗi xã, phường, đặc khu xây dựng ít nhất 05 mô hình “Dân vận khéo”, trong đó có ít nhất 01 mô hình mới hoặc mô hình được nhân rộng gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đảng ủy các cơ quan Đảng thành phố, Đảng ủy Ủy ban nhân dân thành phố, Đảng ủy Công an thành phố, Đảng ủy Quân sự thành phố chỉ đạo 100% tổ chức đảng trực thuộc xây dựng ít nhất 01 mô hình “Dân vận khéo” gắn với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, lĩnh vực hoạt động, công tác của ngành, cơ quan, đơn vị. Phấn đấu có ít nhất 30 tập thể, cá nhân được công nhận điển hình “Dân vận khéo” cấp thành phố trong năm 2026.

Các mô hình “Dân vận khéo” được triển khai trên 4 lĩnh vực trọng tâm, gồm: kinh tế; văn hóa – xã hội; quốc phòng – an ninh, dân tộc – tôn giáo; xây dựng hệ thống chính trị. Mô hình “Dân vận khéo” được tính vào chỉ tiêu năm 2026 bao gồm các mô hình đã được triển khai thực hiện từ những năm trước còn phù hợp, có hiệu quả và được tiếp tục đăng ký thực hiện trong năm 2026 với mục tiêu, chỉ tiêu cao hơn; các mô hình đăng ký xây dựng mới, bắt đầu thực hiện từ năm 2026 và được tổ chức ra mắt mô hình.

Quy trình xây dựng và thực hiện mô hình “Dân vận khéo” được thực hiện theo 4 bước: (1) Xác định nội dung mô hình và đăng ký thực hiện; (2) Triển khai thực hiện mô hình; (3) Khảo sát, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện mô hình; (4) Tổng kết, biểu dương, nhân rộng. 

Theo Hướng dẫn, các đảng bộ trực thuộc Thành ủy, đảng bộ cấp xã chỉ đạo xây dựng Kế hoạch thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng mô hình “Dân vận khéo” đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu năm 2026. Gửi báo cáo, bản tổng hợp đăng ký mô hình “Dân vận khéo” về Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy trước ngày 10/3/2026. Chỉ đạo thẩm định, đánh giá, bình xét, công nhận mô hình “Dân vận khéo”, lựa chọn giới thiệu điển hình, mô hình “Dân vận khéo” tiêu biểu đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy công nhận và biểu dương cấp thành phố trước ngày 15/10/2026. Xây dựng Báo cáo kết quả thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” 06 tháng đầu năm trước ngày 30/6/2026; Báo cáo năm trước ngày 31/11/2026 gửi về Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy. Chỉ đạo lập, lưu trữ hồ sơ triển khai thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” đầy đủ, đảm bảo theo quy định.

 

II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI

1. Một số nét nổi bật về tình hình kinh tế - xã hội nước ta năm 2025; triển vọng năm 2026

- Tăng trưởng kinh tế năm 2025 tiếp tục duy trì thành tích cao và xu hướng cải thiện rõ nét theo quý, với quý sau cao hơn quý trước [1]. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2025 ước tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của quý IV trong giai đoạn 2011 - 2025, tiếp đà phục hồi và mở rộng tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Diễn biến theo quý cho thấy tăng trưởng được cải thiện liên tục. Tính chung cả năm 2025, GDP ước tăng 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn mức tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011 - 2025. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%, tiếp tục giữ vai trò động lực chủ đạo của tăng trưởng.

- Khu vực sản xuất tiếp tục hoạt động ổn định, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đà tăng trưởng chung của nền kinh tế:

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung vẫn được duy trì ổn định, ước tăng 3,78% so với năm trước. Hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục là điểm sáng nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, cải thiện năng suất và kiểm soát chi phí, trong khi mặt bằng giá bán duy trì ở mức đảm bảo lợi nhuận cho người nuôi.

Khu vực công nghiệp duy trì mức tăng cao, qua đó hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng thêm khu vực công nghiệp và xây dựng ở mức cao 9,73%.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý IV/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước do các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất chuẩn bị hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu cuối năm. Tính chung năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp ước tăng 9,2% so với năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.

- Hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng tích cực, phản ánh sự phục hồi rõ nét của cầu tiêu dùng trong nước, du lịch nội địa và đặc biệt là sự bứt phá mạnh mẽ của khách quốc tế đến Việt Nam.

Tính chung cả năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2024 (năm 2024 tăng 8,9%); nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 6,7%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống mở rộng đồng đều của các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nền kinh tế. Cả năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 843,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,0% tổng mức, tăng 14,6% so với năm trước; doanh thu du lịch lữ hành đạt 93,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,4%, tăng 20,2%, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của du lịch trong tăng trưởng khu vực dịch vụ; doanh thu dịch vụ khác đạt 736,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,5%, tăng 11,5%.

Hoạt động vận tải, viễn thông và du lịch năm 2025 phục hồi mạnh mẽ phản ánh hồi phục của nhu cầu đi lại, giao thương, kết nối số và hội nhập quốc tế. Ngành viễn thông tiếp tục chuyển dịch sang hạ tầng số, với doanh thu cả năm ước đạt 380,0 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0%, số thuê bao điện thoại đạt 123,6 triệu và thuê bao internet băng rộng cố định đạt 25,1 triệu, phản ánh nhu cầu kết nối chất lượng cao gia tăng. Du lịch quốc tế tăng trưởng đột phá, với gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 20,4%, chủ yếu qua đường hàng không, qua đó tạo động lực quan trọng cho khu vực dịch vụ và khẳng định vị thế ngày càng nâng cao của Việt Nam trong chuỗi du lịch khu vực và toàn cầu.

- Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 tăng trưởng mạnh, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đạt mức cao nhất trong nhiều năm:

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng cao. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2024, cao hơn nhiều mức tăng 7,8% của năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức cao. Tính đến ngày 31/12/2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Vốn đăng ký cấp mới có 4.054 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 17,32 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm trước về số dự án và giảm 12,2% về số vốn đăng ký.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua.

- Thương mại quốc tế sôi động, xuất nhập khẩu đạt mức tăng trưởng cao:

Hoạt động xuất nhập khẩu năm 2025 tăng trưởng mạnh, quy mô thương mại tiếp tục được mở rộng. Tính chung cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0%, và nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD, mặc dù thấp hơn mức xuất siêu năm 2024 (24,77 tỷ) nhưng vẫn phản ánh khả năng duy trì thặng dư thương mại trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới năm 2025 có nhiều biến động.

Về thị trường, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 153,2 tỷ USD, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 186,0 tỷ USD. Trong năm 2025, Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 133,9 tỷ USD, nhập siêu lớn từ Trung Quốc (115,6 tỷ USD).

- Lạm phát trong tầm kiểm soát, CPI đạt mục tiêu quốc hội đề ra:

Mặt bằng giá tiêu dùng năm 2025 được kiểm soát hiệu quả, CPI bình quân tăng 3,31% so với năm 2024, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.

Lạm phát cơ bản bình quân năm 2025 tăng 3,21%, thấp hơn CPI chung, cho thấy áp lực lạm phát chủ yếu xuất phát từ các yếu tố giá mang tính hành chính và hàng hóa thiết yếu, trong khi lạm phát do cầu kéo và tiền tệ vẫn được kiểm soát.

- Ngân sách nhà nước năm 2025 vượt dự toán, thu - chi tăng mạnh, củng cố dư địa tài khóa:

Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2025 ước đạt 2.650,1 nghìn tỷ đồng, bằng 134,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với năm trước. Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2025 ước đạt 2.401,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93,2% dự toán năm và tăng 31,2% so với năm trước.

Theo các tổ chức nghiên cứu và định chế tài chính quốc tế lớn, triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 được đánh giá tích cực nhưng thận trọng, với mức dự báo dao động khá rộng, phản ánh sự đan xen giữa các động lực nội tại và rủi ro bên ngoài. Các tổ chức đa phương, như: IMF, OECD, ADB và World Bank nhìn chung dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam quanh mức 5,6 - 6,1%, nhấn mạnh vai trò của FDI ổn định, tiêu dùng nội địa cải thiện, đầu tư công và môi trường vĩ mô tương đối ổn định như các trụ cột nâng đỡ tăng trưởng. Tuy nhiên, các đánh giá này cũng đồng thời cảnh báo rủi ro ngày càng rõ nét từ tác động trễ của các biện pháp thuế quan của Mỹ, căng thẳng thương mại toàn cầu và điều kiện tài chính quốc tế thắt chặt, có thể làm suy yếu xuất khẩu và đầu tư trong trung hạn.

Ngày 13/01/2026, Quốc hội đã phê duyệt Nghị quyết số 244/2025/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Nghị quyết xác định năm 2026 là năm bản lề có ý nghĩa đặc biệt, gắn với nhiều sự kiện quan trọng, như Đại hội XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đồng thời là năm đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm 2026 - 2030, mở ra giai đoạn phát triển mới hướng tới mục tiêu giàu mạnh, thịnh vượng. Nghị quyết nhấn mạnh ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, đồng thời đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, khơi thông và giải phóng mọi nguồn lực, nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy và xây dựng nền hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Trên cơ sở đó, Nghị quyết đề ra 15 chỉ tiêu chủ yếu cho năm 2026, nổi bật là phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%. Với quyết tâm chính trị cao ngay từ năm đầu nhiệm kỳ và nếu tháo gỡ hiệu quả các điểm nghẽn thể chế, cộng hưởng với những thuận lợi từ kinh tế thế giới, năm 2026 có thể trở thành điểm khởi đầu vững chắc cho một chu kỳ tăng trưởng mới, bền vững và chất lượng hơn.

2. Một số nội dung trọng tâm cần tập trung tuyên truyền sau Đại hội lần thứ XIV của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19 - 23/01/2026. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, trọng đại của đất nước; là dấu mốc đặc biệt trên con đường phát triển, mở ra kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc,” “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”. Đại hội diễn ra trong bối cảnh quốc tế, khu vực thay đổi nhanh, có nhiều bất ổn, bất định, diễn biến rất phức tạp, khó dự báo; đất nước sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới. Đại hội tiến hành kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 và những năm tiếp theo; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tạo khí thế phấn khởi, củng cố niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân vào sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc; cổ vũ hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân chung sức, đồng lòng tiếp tục nỗ lực, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026), đề nghị tập trung tuyên truyền một số nội dung trọng tâm sau Đại hội XIV của Đảng như sau:

Thứ nhất, tuyên truyền kết quả bầu cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng; nhấn mạnh tính kế thừa, ổn định và phát triển, sự kết hợp hài hòa giữa tiêu chuẩn, cơ cấu và yêu cầu thực tiễn; khẳng định đội ngũ cán bộ khóa mới đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Qua đó, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với công tác cán bộ của Đảng; phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ trương, đường lối và công tác nhân sự Đại hội.

Thứ hai, tập trung làm rõ những nội dung cốt lõi, điểm mới, tư duy mới và đột phá chiến lược của Nghị quyết Đại hội XIV; nhấn mạnh mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực con người và khu vực kinh tế tư nhân.

Đồng thời, cần khẳng định rõ Nghị quyết Đại hội XIV là sự kế thừa và phát triển sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, là kết quả của quá trình tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới; thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc lãnh đạo đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Thứ ba, tổ chức học tập, quán triệt sâu rộng Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; làm rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị.

Thông qua tuyên truyền, cần tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, gắn việc thực hiện Nghị quyết với các phong trào thi đua yêu nước, với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đưa nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

Thứ tư, tiếp tục tuyên truyền sâu sắc chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Đồng thời, đẩy mạnh thông tin đối ngoại về kết quả Đại hội XIV, làm rõ các quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đến các chính đảng, tổ chức quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; qua đó nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.

Thứ năm, tuyên truyền sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động, công trình chào mừng thành công của Đại hội XIV, Đại hội đảng bộ các cấp và 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các tổ chức đảng, đảng viên và tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong các phong trào thi đua trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thứ sáu, tuyên truyền, phản ánh sâu sắc không khí phấn khởi, tin tưởng và kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sau Đại hội XIV của Đảng; sự quan tâm của các đảng, các nước và tổ chức quốc tế về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là mong muốn của đảng viên và quần chúng Nhân dân đối với Đảng.

Thứ bảy, tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; đấu tranh, phản bác những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước và Đại hội XIV của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

3. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực năm 2025

Tại Phiên thứ 29 ngày 25/12/2025, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã đánh giá kết quả công tác năm 2025 trên một số mặt sau:

Năm 2025 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức, thiên tai, bão lụt diễn biến phức tạp chưa từng có, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Ban Chỉ đạo đã bám sát chỉ đạo của Trung ương, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTNLPTC), gắn với phát triển kinh tế - xã hội, vận hành chính quyền 2 cấp và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp. Công tác PCTNLPTC tiếp tục được chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt, toàn diện, với nhiều cách làm mới, mang lại hiệu quả rõ rệt, tạo sự đồng thuận, đồng lòng cao trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Với những kết quả nổi bật là:

Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được tập trung chỉ đạo quyết liệt, vừa phục vụ các nhiệm vụ chiến lược, sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp, kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước, vừa khắc phục những sơ hở, bất cập, nâng cao hiệu quả PCTNLPTC. Trong năm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành trên 130 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTNLPTC. Quốc hội, Chính phủ đã sửa đổi, ban hành 89 luật, hơn 900 nghị định, chỉ thị, nghị quyết; trọng tâm là khắc phục những sơ hở, bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản pháp luật; hoàn thiện thể chế về hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền ba cấp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Các bộ, ngành, địa phương đã sửa đổi, bổ sung, ban hành gần 12.000 văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả PCTNLPTC.

Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh; các cơ quan chức năng đã tập trung kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Nhất là các vụ án, vụ việc gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, sức khỏe của người dân, dư luận bức xúc; các vụ án, vụ việc có sự cấu kết, móc nối giữa cán bộ thoái hóa, biến chất với doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi, thậm chí cả với bị can, đối tượng tội phạm núp bóng doanh nghiệp và các vụ, việc liên quan đến nhân sự Đại hội đảng các cấp.

Từ đầu năm đến nay, cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật 23 cán bộ diện Trung ương quản lý; trong đó có 06 trường hợp bị xử lý hình sự. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính 75.132 tỷ đồng và 633 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 928 tập thể và 3.058 cá nhân. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố mới 3.325 vụ/8.516 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ, trong đó có 585 vụ án/1.585 bị can về các tội tham nhũng. Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, đã khởi tố mới 06 vụ án/104 bị can từ 04 vụ việc; khởi tố bổ sung 172 bị can trong 16 vụ án; kết luận điều tra 14 vụ án/323 bị can; truy tố 14 vụ án/251 bị can; xét xử sơ thẩm 10 vụ án/167 bị cáo; xét xử phúc thẩm 14 vụ án/253 bị cáo; trong đó, đã kết thúc điều tra, truy tố, hoàn thành xét xử sơ thẩm một số vụ án trọng điểm theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.

Công tác thu hồi tài sản tiếp tục có chuyển biến tích cực. Trong năm, các cơ quan tố tụng đã tạm giữ, kê biên, phong tỏa, thu giữ số tài sản trị giá trên 1.270 tỷ đồng và nhiều tài sản có giá trị khác. Riêng các vụ án Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, trong giai đoạn thi hành án dân sự đã thu hồi gần 22.500 tỷ đồng (đạt 55%), nâng tổng số tiền thu hồi được từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến nay là 119.830 tỷ đồng.

Công tác phòng, chống lãng phí được chỉ đạo đẩy mạnh, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đưa vào khai thác, sử dụng nhiều công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ thất thoát, lãng phí theo đúng nguyên tắc “không để lãng phí kéo dài nhưng cũng không hợp thức hóa sai phạm”, góp phần khơi thông nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Qua rà soát của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã rà soát, phân loại, có phương án xử lý đối với gần 3.000 công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ gây thất thoát, lãng phí. Đến nay, đã hoàn thành rà soát, xử lý đối với hơn 1.150 dự án và 10.971 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính các cấp. Nhất là, đã hoàn thành xử lý, đưa vào khai thác, sử dụng đối với dự án xây dựng cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và cơ sở 2 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Thanh tra Chính phủ đã quyết liệt triển khai, hoàn thành thanh tra đối với hơn 70 dự án, chỉ đạo hoàn thành thanh tra đối với 421 dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 62 vụ án/373 bị can về các hành vi lãng phí để cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm.

Tập trung chỉ đạo triển khai đồng bộ, có hiệu quả công tác phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gắn với xây dựng, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp và ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16/01/2025 về giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và Chỉ thị số 53-CT/TW, ngày 26/10/2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ gốc. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và công tác nhân sự đại hội đảng các cấp; thực hiện nghiêm chủ trương bố trí Bí thư cấp ủy, người đứng đầu chính quyền và một số chức danh không phải người địa phương. Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã chú trọng triển khai việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong PCTNLPTC và phục vụ hoạt động của chính quyền các cấp.

 Công tác PCTNLPTC ở địa phương, cơ sở tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Các Ban Chỉ đạo PCTNLPTC cấp tỉnh chủ động kiện toàn tổ chức bộ máy sau hợp nhất, sáp nhập; chỉ đạo triển khai khá toàn diện các nhiệm vụ, cả phòng ngừa và phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong năm 2025, các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã đưa gần 100 vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vào theo dõi, chỉ đạo; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra PCTNLPTC ở cấp cơ sở, chi bộ; xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (đã xử lý 98 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, trong đó có 46 trường hợp bị xử lý hình sự).

Các cơ quan chức năng PCTNLPTC đã khẩn trương, quyết liệt trong thực hiện cơ chế phối hợp, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực qua công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giám định, định giá tài sản, cung cấp tài liệu và thu hồi tài sản; đồng thời đã chủ động phát hiện, xử lý nghiêm các cán bộ, đảng viên vi phạm do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong năm 2025, đã có hơn 250 trường hợp cán bộ, đảng viên các cơ quan chức năng PCTNLPTC bị xử lý kỷ luật do tham nhũng, tiêu cực, trong đó có hơn 60 trường hợp bị xử lý hình sự;...

 Ban Chỉ đạo đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTNLPTC nhiệm kỳ XIII quy mô lớn nhất từ trước đến nay với hơn 190 nghìn cán bộ, đảng viên tham dự, tạo thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã tiến hành tổng kết, đánh giá toàn diện công tác PCTNLPTC đến tận cấp cơ sở, chi bộ. Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo đã đánh giá toàn diện, sâu sắc những kết quả đạt được, khẳng định những thành tựu có tính đột phá, tạo nên dấu ấn nổi bật trong công tác PCTNLPTC nhiệm kỳ XIII. Đồng thời đã xác định rõ 03 yêu cầu, 05 nhiệm vụ trọng tâm, 03 đột phá với phương châm “Kiên trì - Quyết tâm - Đồng thuận - Toàn diện - Đột phá” đối với công tác PCTNLPTC trong thời gian tới.

4. Tăng cường công tác người cao tuổi thích ứng với già hóa dân số

Thời gian qua, công tác người cao tuổi đã được Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam và các bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện, đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ, chăm sóc và phát huy tiềm năng, vai trò của người cao tuổi trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước. Bên cạnh các kết quả đã đạt được, công tác người cao tuổi còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn.

Để tăng cường, nâng cao chất lượng công tác người cao tuổi, góp phần thích ứng với xu hướng già hóa dân số, thúc đẩy phát triển nhanh bền vững, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện 04 nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, an ninh năng lượng quốc gia, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân ngày 16/9/2025, tại Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 23/12/2025, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thích ứng với già hóa dân số; coi công tác người cao tuổi là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, gắn với mục tiêu phát triển bền vững; phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế trong quá trình thực hiện công tác người cao tuổi.

Xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi bảo đảm có tầm nhìn chiến lược, khả thi và đồng bộ, đảm bảo phát huy mạnh mẽ vai trò, tiềm năng, tri thức và kinh nghiệm của người cao tuổi trong các lĩnh vực đời sống xã hội, thích ứng với già hóa dân số. Trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn. Hướng dẫn các địa phương phát triển các mô hình chăm sóc ban ngày, nhà sinh hoạt cộng đồng theo hướng sáng đón đi, tối đưa về; hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi tại gia đình, cộng đồng và các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; đẩy mạnh phát triển các câu lạc bộ cho người cao tuổi và câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau. Tập trung cải cách thủ tục hành chính, liên thông chia sẻ dữ liệu, hướng dẫn người cao tuổi dễ dàng thực hiện các thủ tục hành chính trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Y tế.

Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở phòng, tránh bão, lũ đối với hộ nghèo, cận nghèo, trong đó đặc biệt ưu tiên hộ nghèo, cận nghèo có người cao tuổi. Hỗ trợ, tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, khởi nghiệp; thực hiện việc chủ trì đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo phù hợp. Xây dựng Công ước Quốc tế về người cao tuổi theo chủ trương của Chính phủ Việt Nam; phối hợp, hỗ trợ Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam tăng cường công tác đối ngoại Nhân dân; huy động các nguồn lực nước ngoài hỗ trợ cho công tác người cao tuổi.

Nghiên cứu, phối hợp xây dựng các mô hình phát triển nền kinh tế bạc thích ứng với già hóa dân số tại Việt Nam. Tổ chức tốt Ngày Hội người cao tuổi trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ hằng năm. Phát huy các thiết chế văn hóa hiện có nhằm chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần; tổ chức các hoạt động thể dục, văn hóa, văn nghệ nhằm nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần cho người cao tuổi. Tăng cường thực hiện hiệu quả các chính sách đối với người cao tuổi ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Triển khai Chiến lược quốc gia về người cao tuổi. Quy hoạch mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội. Xem xét, hoàn thiện cơ chế, chính sách, khuyến khích xã hội hóa, thu hút đầu tư phát triển mạng lưới các cơ sở chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập, kết hợp chăm sóc - y tế - phục hồi chức năng trên địa bàn theo quy định. Rà soát, sắp xếp lại các trụ sở, cơ sở vật chất dôi dư để ưu tiên, phát triển các trung tâm chăm sóc ban ngày, nhà sinh hoạt cộng đồng và các câu lạc bộ cho người cao tuổi tại xã, phường, đặc khu; thực hiện đồng bộ các giải pháp chăm sóc người cao tuổi tại nhà và cộng đồng, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc xã hội. Tổ chức các diễn đàn kinh tế bạc để thúc đẩy việc xây dựng các mô hình phát triển kinh tế bạc phù hợp ở Việt Nam,…

5. Một số nét nổi bật về tình hình thế giới năm 2025; dự báo năm 2026

Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn đầy biến động của tình hình thế giới, trong đó các yếu tố địa chính trị, kinh tế và an ninh toàn cầu tiếp tục đan xen, tác động lẫn nhau, tạo nên một môi trường quốc tế phức tạp, nhiều bất định và khó dự báo. Những xung đột kéo dài, sự phân mảnh trong hợp tác kinh tế, cùng quá trình điều chỉnh chính sách vĩ mô ở các nền kinh tế lớn đã trở thành những đặc điểm nổi bật, chi phối sâu sắc triển vọng phát triển toàn cầu trong ngắn và trung hạn.

Năm 2025 cho thấy bức tranh xung đột địa chính trị toàn cầu mang tính lan tỏa, kéo dài và khó đảo ngược, với các điểm nóng trải dài từ châu Âu, Trung Đông, châu Phi đến Mỹ Latinh. Tại châu Âu, xung đột Nga - Ukraine bước sang năm thứ tư với cường độ cao, trong bối cảnh các nỗ lực ngoại giao bế tắc và sự điều chỉnh ưu tiên chiến lược của Mỹ tạo áp lực lớn lên châu Âu.

Ở Trung Đông, Israel theo đuổi cách tiếp cận quân sự hóa mạnh mẽ trên nhiều mặt trận, khiến xung đột khu vực ngày càng liên thông; Biển Đỏ trở thành điểm nghẽn thương mại toàn cầu do các cuộc tấn công của Houthis. Tại châu Phi, khu vực Sahel chứng kiến sự trỗi dậy của các nhóm thánh chiến và nguy cơ “hiệu ứng domino” chính trị. Ở Mỹ Latinh - Caribe, xu hướng quân sự hóa chính sách an ninh và sử dụng công cụ cưỡng bức từ bên ngoài làm gia tăng bất ổn nội sinh. Tổng thể, xung đột không chỉ mang tính khu vực mà đã trở thành yếu tố cấu trúc của môi trường quốc tế, làm xói mòn an ninh, gián đoạn thương mại và thu hẹp dư địa chính sách toàn cầu.

Một trong những chính sách ảnh hưởng mạnh đến kinh tế thế giới năm 2025 là chính sách thuế quan của Mỹ. Tổng thống Trump ban hành Sắc lệnh ngày 02/4/2025, thiết lập mức thuế cơ bản 10% trên hầu hết hàng nhập khẩu và cho phép áp mức cao hơn với các đối tác bị coi là bất công về thương mại. Chính sách này vấp phải phản ứng mạnh mẽ toàn cầu, kéo theo nguy cơ trả đũa, gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng lạm phát. Trong quá trình thực thi, một số mức thuế được tạm hoãn hoặc áp dụng ngoại lệ, song nhìn chung vẫn tiềm ẩn rủi ro lớn đối với thương mại và ổn định chính trị nếu tiếp tục mở rộng.

Chính sách tiền tệ toàn cầu năm 2025 bước vào giai đoạn “hậu thắt chặt” với sự thận trọng cao. Phần lớn các ngân hàng trung ương lớn đã hoàn tất hoặc gần hoàn tất chu kỳ tăng lãi suất. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ phát tín hiệu kết thúc thắt chặt, đưa lãi suất điều hành về khoảng 3,5 - 3,7%. Ngân hàng Trung ương châu Âu giữ nguyên lãi suất do lạm phát lõi còn dai dẳng. Tại châu Á, chính sách tiền tệ linh hoạt hơn nhưng chịu ràng buộc bởi rủi ro tỷ giá và dòng vốn; Trung Quốc duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ phục hồi, trong khi Nhật Bản giữ lãi suất ở mức cao nhất kể từ năm 2008.

Giá cả toàn cầu năm 2025 chấm dứt xu thế “giá lên đồng loạt”, chuyển sang trạng thái phân hóa và biến động. Thị trường hàng hóa cơ bản bước vào chu kỳ điều chỉnh giảm sau giai đoạn tăng mạnh 2021 - 2023. Các mặt hàng nhạy cảm với tăng trưởng và đầu tư chịu áp lực giảm giá, trong khi các mặt hàng mang tính trú ẩn hoặc chịu tác động địa chính trị như vàng và dầu biến động theo các cú sốc ngắn hạn. Giá nông sản nhìn chung hạ nhiệt, song phân bón duy trì ở mức cao; thị trường năng lượng tiếp tục nhạy cảm với địa chính trị và vận tải.

Dòng vốn đầu tư quốc tế năm 2025 chậm lại về quy mô nhưng chuyển dịch mạnh về cơ cấu và chất lượng. Sau khi đạt đỉnh khoảng 41 nghìn tỷ USD năm 2023, FDI toàn cầu giảm mạnh trong năm 2024 và triển vọng năm 2025 tiếp tục mờ nhạt. Xu hướng nổi bật là sự chuyển dịch từ mở rộng quy mô sang đầu tư có chọn lọc, tập trung vào công nghệ cao, năng lượng tái tạo, tự động hóa và chuyển đổi số; cạnh tranh thu hút vốn ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, năng suất và hạ tầng số.

Thương mại toàn cầu năm 2025 ghi nhận sự bứt tốc ngắn hạn, với tổng kim ngạch lần đầu vượt 35.000 tỷ USD, tăng khoảng 7%. Động lực tăng trưởng đến từ các nền kinh tế đang phát triển và các ngành công nghệ cao. Trung Quốc duy trì thặng dư thương mại lớn nhờ chuyển hướng thị trường, trong khi Hàn Quốc và Malaysia hưởng lợi từ chu kỳ bán dẫn. Tuy nhiên, đà tăng suy yếu rõ rệt vào quý IV/2025, cho thấy tăng trưởng mang tính kỹ thuật và tiềm ẩn rủi ro điều chỉnh.

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 phục hồi nhẹ. IMF dự báo GDP toàn cầu đạt khoảng 3,2% năm 2025 và giảm xuống 3,1% năm 2026; OECD đưa ra mức tương ứng là 3,2% và 2,9%. Mặc dù cao hơn các cập nhật giữa năm, mức tăng trưởng này vẫn thấp hơn đáng kể so với quỹ đạo dài hạn trước đại dịch. Các động lực truyền thống tiếp tục suy yếu, trong khi các động lực mới như kinh tế số, đổi mới công nghệ và kinh tế xanh chưa đủ lan tỏa để tạo bứt phá trong trung hạn.

Năm 2026, kinh tế thế giới được các chuyên gia dự báo vận hành trong trạng thái “bình thường mới” sau giai đoạn thắt chặt tiền tệ 2022 - 2024, với tăng trưởng ổn định hơn nhưng vẫn ở mức thấp so với trung bình dài hạn và phục hồi thiếu đồng đều giữa các khu vực. Các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2026 dao động trong khoảng 2,4 - 3,1%, phản ánh tác động kéo dài của bất ổn địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và quá trình tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu. Thương mại và đầu tư quốc tế năm 2026 vận hành trong môi trường phân mảnh, với dự báo tăng trưởng thương mại toàn cầu duy trì sẽ gặp khó khăn sau khi tăng cao trong năm 2025. Dòng vốn FDI tiếp tục tái cơ cấu theo hướng ưu tiên các nền kinh tế có thể chế ổn định, chi phí cạnh tranh và khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng mới, trong đó ASEAN và Ấn Độ ngày càng khẳng định vai trò trung tâm.

6. Một số kết quả nổi bật về công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam năm 2025

Trong năm 2025, công tác đối ngoại tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả; đã bám sát và thực hiện thắng lợi các mục tiêu được đề ra trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước (nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và các nghị quyết, kết luận, chỉ thị khác của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác đối ngoại, cũng như các nghị quyết của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội năm 2025). Một số kết quả chủ yếu như sau:

Kết quả lãnh đạo, chỉ đạo về đối ngoại

(i) Các chủ trương, đường lối của Đảng về đối ngoại tiếp tục được cụ thể hóa; việc thể chế hóa chính sách được hoàn thiện, nhất là ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới - một trong những nghị quyết chiến lược của Đảng. Trên cơ sở đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức quán triệt, cụ thể hóa bằng các nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động cụ thể; xây dựng một số văn bản pháp lý quan trọng như Nghị quyết số 250/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù triển khai hội nhập quốc tế, Luật Điều ước quốc tế (sửa đổi), Luật Quốc tịch (sửa đổi).

(ii) Ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân phối hợp bài bản, nhuần nhuyễn, phát huy sức mạnh tổng hợp sau quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy. Đối ngoại Đảng phát huy vai trò định hướng chiến lược, thúc đẩy quan hệ của ta với nhiều đối tác lớn, quan trọng theo tinh thần Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị. Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí Lãnh đạo cấp cao của Đảng đã triển khai nhiều hoạt động đối ngoại một cách toàn diện, đều khắp với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống. Đối ngoại Quốc hội được triển khai hiệu quả, thực chất; tranh thủ tốt kênh ngoại giao nghị viện để thúc đẩy hợp tác toàn diện với các đối tác. Mặt trận Tổ quốc, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức nhân dân triển khai hiệu quả, sáng tạo các hoạt động đối ngoại Nhân dân theo tinh thần Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 05/01/2022 của Ban Bí thư, góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế.

(iii) Các lực lượng đối ngoại trong hệ thống chính trị tiếp tục phát huy sức mạnh đặc thù, phục vụ mục tiêu chung của đối ngoại. Đối ngoại Quốc phòng được triển khai toàn diện, đồng bộ, góp phần tích cực xây dựng lòng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước, đồng thời nâng cao tiềm lực quốc phòng của Việt Nam. Việt Nam tham gia tích cực, có trách nhiệm vào hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và các diễn đàn quốc phòng đa phương. Đối ngoại Công an được triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả; tham gia tích cực, chủ động, có trách nhiệm trong các cơ chế hợp tác đa phương về an ninh mạng, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, phòng, chống mua bán người; đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương về an ninh, góp phần giữ vững an ninh, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước. Hệ thống 98 Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục đóng vai trò cầu nối tích cực, thúc đẩy hợp tác, xúc tiến đầu tư, thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, quảng bá hình ảnh, văn hóa, du lịch Việt Nam.

Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực

(i) Quan hệ với các đối tác tiếp tục được tạo bước chuyển về chất và lượng, làm sâu sắc hơn, đặc biệt thông qua các hoạt động đối ngoại của Lãnh đạo chủ chốt và Lãnh đạo cấp cao. Các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt đã triển khai 75 hoạt động đối ngoại trong năm 2025, tăng gần gấp 1,5 lần so với năm 2024; nâng cấp quan hệ với 17 nước, đưa số đối tác có quan hệ từ mức Đối tác toàn diện trở lên lên 42 nước; thiết lập quan hệ ngoại giao với Tuvalu, nâng tổng số nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam lên 194 nước. Tổ chức thành công, đón tiếp chu đáo các đoàn đại biểu quốc tế tham dự Lễ kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam và 80 năm Quốc khánh 2/9.

(ii) Kinh tế đối ngoại, ngoại giao kinh tế và ngoại giao khoa học - công nghệ tiếp tục góp phần ứng phó linh hoạt, hiệu quả với các biến động từ bên ngoài, nhất là thích ứng với những điều chỉnh của các nước về kinh tế, thương mại; đóng góp quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế; tranh thủ các động lực tăng trưởng mới như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thu hút FDI và ODA chất lượng cao; đa dạng hóa đối tác, thị trường thông qua thúc đẩy đàm phán các FTA với Brazil, Khối thị trường chung Mỹ La-tinh (MERCOSUR), Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA).

(iii) Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp trên biển được giữ vững; biên giới trên bộ được duy trì ổn định. Đối với các vấn đề trên biển, ta theo dõi sát tình hình, đấu tranh kịp thời trước những hoạt động xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán; đẩy mạnh khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, đặc biệt là công bố Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ; thúc đẩy xây dựng COC hiệu lực, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982. Về biên giới trên đất liền, ta tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của các nước, duy trì tình hình biên giới cơ bản ổn định. Ta chủ động phát hiện, đấu tranh chống các âm mưu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, chống phá chính sách của Đảng và Nhà nước. Hợp tác quốc tế về ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống tiếp tục được thúc đẩy, đặc biệt trong các lĩnh vực ta quan tâm cao như ứng phó biến đổi khí hậu, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, chống tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng.

(iv) Đối ngoại đa phương được nâng tầm, phát huy vai trò dẫn dắt, định hướng và tham gia xây dựng luật chơi trên nhiều diễn đàn đa phương. Dấu ấn nổi bật năm 2025 là việc Việt Nam chủ động thúc đẩy, tổ chức thành công Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ hai (tháng 4/2025), Hội nghị Thượng đỉnh Đối tác vì phát triển bền vững và các mục tiêu toàn cầu (P4G) lần thứ tư (tháng 4/2025), Đại lễ Phật đản Vesak (tháng 5/2025), Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2025 (tháng 11/2025); Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng tại Hà Nội (24 - 26/10/2025);... Tại các diễn đàn, sự kiện đa phương quan trọng, Việt Nam khẳng định rõ nét tầm nhìn, truyền tải thông điệp, cam kết mạnh mẽ và thể hiện những nỗ lực, đóng góp trách nhiệm, xây dựng vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Việt Nam tham gia tích cực, thể hiện vai trò thành viên có trách nhiệm khi đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025; tái cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 với số phiếu cao thứ hai thế giới (180/188); đảm nhiệm vị trí tại 6/7 cơ chế then chốt của UNESCO; tích cực chuẩn bị đăng cai Hội nghị Cấp cao APEC 2027.

(v) Công tác người Việt Nam ở nước ngoài, công tác lãnh sự và bảo hộ công dân, công tác ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại tiếp tục được đẩy mạnh, phát huy hiệu quả, với nhiều điểm nhấn và cách làm mới. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài góp phần quan trọng huy động nguồn lực tài chính, tri thức phục vụ các lĩnh vực phát triển chiến lược của đất nước, nhất là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tính đến tháng 11/2025, lượng kiều hối thu hút đạt hơn 17,7 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay. Công tác bảo hộ công dân kịp thời đưa hàng trăm công dân Việt Nam rời các điểm nóng tại Iran và Israel; phối hợp với các cơ quan hữu quan của Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Philippines giải cứu, bảo hộ và hỗ trợ đưa về nước hàng nghìn công dân trong các chiến dịch truy quét các cơ sở lừa đảo, sử dụng lao động nước ngoài bất hợp pháp; tiếp tục làm tốt công tác bảo hộ ngư dân và tàu cá bị phía nước ngoài bắt giữ. Công tác ngoại giao văn hóa được triển khai hiệu quả, bảo tồn và phát huy giá trị di sản; ghi danh thêm 7 danh hiệu, di sản trong khuôn khổ UNESCO, trong đó có Yên Tử, Côn Sơn, Kiếp Bạc, nâng tổng số danh hiệu lên 77, vượt mục tiêu đề ra là 60 danh hiệu vào năm 2030.

(vi) Công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược tiếp tục được chú trọng, nâng cao chất lượng, góp phần kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chủ trương và các biện pháp xử lý phù hợp trước những diễn biến mới của tình hình.

7. ASEAN năm 2025: Củng cố đoàn kết, định hướng phát triển bền vững đến năm 2045

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đánh dấu nhiều sự kiện mang tính lịch sử và mở ra một chương phát triển mới của Cộng đồng. Đây là năm ASEAN chính thức khởi động triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 - văn kiện định hướng chiến lược cho tiến trình liên kết và phát triển của Hiệp hội trong 20 năm tới; đồng thời là năm ASEAN mở rộng thành viên với việc kết nạp Timor Leste, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một Cộng đồng ASEAN bao trùm, đoàn kết và bền vững.

Năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục đối mặt với nhiều biến động phức tạp, từ gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đến những thách thức toàn cầu về an ninh, kinh tế và biến đổi khí hậu. Đây cũng là năm ASEAN kỷ niệm 10 năm hình thành Cộng đồng ASEAN với ba trụ cột: Chính trị - An ninh, Kinh tế và Văn hóa - Xã hội. Trong bối cảnh đó, việc vừa tổng kết chặng đường 10 năm xây dựng Cộng đồng, vừa xác định định hướng phát triển cho giai đoạn tiếp theo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Với tinh thần kiên định trước khó khăn, các nước thành viên ASEAN đã nỗ lực duy trì đoàn kết, củng cố bản sắc và tăng cường gắn kết nội khối. Ngay từ đầu năm, trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2025, Malaysia đã xác định các ưu tiên trọng tâm gồm: chung tay xử lý các thách thức; thúc đẩy thịnh vượng chung, không bỏ lại ai phía sau; củng cố liên kết và hội nhập nội khối; tăng cường thương mại, đầu tư và mở rộng hợp tác với các đối tác vì tăng trưởng bao trùm, bền vững; xây dựng một ASEAN tự cường, đặc biệt trong lĩnh vực số.

Dấu mốc nổi bật của năm là Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 46 tổ chức tại Kuala Lumpur (tháng 5/2025) và đã thông qua Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045. Văn kiện này đề ra 4 chiến lược triển khai trên các lĩnh vực Chính trị - An ninh, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Kết nối, hướng tới xây dựng một “ASEAN tự cường, năng động, sáng tạo và lấy người dân làm trung tâm”. Việc thông qua Tầm nhìn ASEAN 2045 khẳng định ASEAN đang bước vào giai đoạn chuyển mình quan trọng, đòi hỏi tiếp tục củng cố đoàn kết, tăng cường nội lực và nâng cao hiệu quả liên kết để hiện thực hóa các mục tiêu dài hạn.

Trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, ASEAN tiếp tục đẩy mạnh hợp tác thông qua nâng cấp Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), xây dựng Hướng dẫn Đầu tư bền vững ASEAN, cơ bản hoàn tất đàm phán Hiệp định khung Kinh tế số ASEAN (DEFA), thúc đẩy kết nối Lưới điện ASEAN, nâng cấp Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA 3.0), xúc tiến nâng cấp FTA với Hàn Quốc và nghiên cứu đàm phán FTA với Liên minh châu Âu và Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh.

Trong đó, DEFA được coi là sáng kiến tiên phong nhằm xây dựng thị trường kỹ thuật số thống nhất của ASEAN, với các quy tắc chung về thương mại điện tử, luồng dữ liệu xuyên biên giới, an ninh mạng, định danh và thanh toán số, dự kiến góp phần đưa quy mô kinh tế số ASEAN đạt khoảng 2.000 tỷ USD vào năm 2030.

Trên bình diện khu vực và quốc tế, ASEAN tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm trong thúc đẩy đối thoại, hợp tác và xây dựng lòng tin. Dù đối mặt nhiều thách thức, các cơ chế hợp tác do ASEAN dẫn dắt như: ASEAN+1, ASEAN+3, Hội nghị cấp cao Đông Á và Diễn đàn Khu vực ASEAN vẫn duy trì sức hút, đóng góp tích cực vào mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của khu vực.

Song song đó, quan hệ giữa ASEAN với các đối tác ngày càng đi vào chiều sâu, với việc thiết lập và nâng cấp nhiều khuôn khổ hợp tác chiến lược và kinh tế, tiếp tục khẳng định vai trò và giá trị của ASEAN như biểu tượng của đối thoại và hợp tác khu vực.

Năm 2025 cũng ghi dấu mốc lịch sử khi ASEAN chính thức chào đón Timor Leste trở thành thành viên thứ 11. Đây là lần mở rộng đầu tiên của ASEAN kể từ năm 1999, thể hiện rõ cam kết về đoàn kết, bao trùm và tăng cường bản sắc Cộng đồng. Lãnh đạo ASEAN đánh giá cao đóng góp tiềm năng của Timor Leste với vai trò thành viên mới, mang lại nguồn sinh lực mới, sự đa dạng văn hóa và vị trí chiến lược quan trọng cho Hiệp hội.

Bên cạnh hợp tác chính trị và kinh tế, năm 2025 còn ghi nhận các hoạt động giao lưu, kết nối nhân dân nổi bật, tiêu biểu là Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 33 tổ chức tại Thái Lan. Sự kiện góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị và lan tỏa tinh thần hợp tác bền vững trong khu vực.

Đối với Việt Nam, năm 2025 đánh dấu tròn 30 năm gia nhập ASEAN, là chặng đường thể hiện rõ tinh thần chủ động, trách nhiệm và những đóng góp thiết thực của Việt Nam đối với tiến trình xây dựng Cộng đồng. ASEAN vừa là không gian hợp tác quan trọng, vừa là môi trường chiến lược giúp Việt Nam duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy phát triển và nâng cao vị thế quốc tế.

Trong năm 2025, Việt Nam tiếp tục tham gia tích cực, chủ động và có trách nhiệm vào các hoạt động chung của ASEAN, góp phần hoàn tất triển khai các kế hoạch xây dựng Cộng đồng 2025, thông qua Tầm nhìn ASEAN 2045 và thúc đẩy nhiều sáng kiến hợp tác quan trọng. Các hoạt động đối ngoại đa phương, trong đó có Diễn đàn Tương lai ASEAN, tiếp tục khẳng định vai trò và đóng góp của Việt Nam đối với tương lai khu vực.

8. Nỗ lực toàn cầu trong bảo đảm phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có trách nhiệm

Sau hơn ba năm kể từ ngày ChatGPT xuất hiện cuối năm 2022 và tạo nên cơn sốt toàn cầu, năm 2025 tiếp tục đánh dấu sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo với sự mở màn của “cơn địa chấn” DeepSeek với mô hình AI chi phí thấp. Đồng thời, năm 2025 cũng chứng kiến nỗ lực của các quốc gia trong việc ban hành các khung pháp lý để kiểm soát những mặt trái do AI mang lại.

Kể từ khi công ty OpenAI phát hành ChatGPT vào cuối năm 2022, cuộc đua giành “ngôi vương” trong lĩnh vực AI ngày càng trở nên sôi động và mang lại nhiều sản phẩm giúp thay đổi cách sống cũng như làm việc của nhiều người. Với những bước tiến vượt bậc ngay từ đầu năm 2025, AI được các nhà chuyên môn đánh giá không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn được xem như một dạng “siêu năng lực” mới.

Ngay từ đầu năm 2025, DeepSeek - một công ty AI của Trung Quốc được thành lập vào năm 2023 - đã phát hành mô hình DeepSeek-R1 vào tháng 1/2025. Mô hình này nhanh chóng thu hút sự chú ý nhờ khả năng lập luận tiên tiến, được cho là đạt hiệu suất tương đương với các hệ thống AI hàng đầu nhưng với chi phí phát triển chỉ bằng một phần nhỏ. Sự trỗi dậy của DeepSeek được mô tả là bước ngoặt trong cuộc đua AI toàn cầu. Từ việc ra mắt mô hình DeepSeek-R1, DeepSeek sau đó liên tiếp cho ra nhiều mô hình nâng cấp trong năm 2025.

Sự xuất hiện và gây “bão” của DeepSeek ngay từ đầu năm 2025 đã khiến cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ nói chung, trong lĩnh vực AI nói riêng giữa các cường quốc trên thế giới ngày càng lớn. Tại Mỹ, Amazon hồi tháng 2/2025 đã công bố phiên bản mới của trợ lý giọng nói Alexa được AI tạo sinh hỗ trợ, với khả năng thực hiện các hành động theo lệnh và sáng tác nội dung. Cùng thời điểm, Nvidia thông báo đã tạo ra hệ thống AI lớn nhất từ trước đến nay dành cho nghiên cứu sinh học mang tên Evo 2, nhằm đẩy nhanh các đột phá trong y học và di truyền học.

xAI - công ty về AI của tỷ phú người Mỹ Elon Musk - ngày 17/02/2025 đã tiết lộ phiên bản mới của chatbot Grok với sức mạnh tính toán vượt trội. Meta Platforms ngày 28/9/2025 cũng chính thức giới thiệu nền tảng video ngắn dựa trên trí tuệ nhân tạo mang tên Vibes, cho phép người dùng tự do sáng tạo video ngắn bằng AI ngay trên ứng dụng Meta AI và website meta.ai.

Nhìn chung, các chuyên gia đánh giá, nếu như năm 2024 là năm của AI tạo sinh với khả năng sáng tạo nội dung, thì năm 2025 đánh dấu bước nhảy vọt sang khả năng “hành động” của công nghệ này. Năm 2025 ghi nhận sự trưởng thành của AI tạo sinh chuyên xử lý hình ảnh và âm thanh, thậm chí được đánh giá “xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo”, giúp ngành quảng cáo và điện ảnh cắt giảm chi phí sản xuất ở mức đáng kể.

Với những lợi ích vượt trội mà AI mang lại, nhiều quốc gia đã và đang đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI. Không thể phủ nhận, AI - một trong những công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc thay đổi thế giới và cuộc sống của con người, từ dự báo thiên tai, quản lý tài nguyên đến giảm thiểu nguy cơ xung đột do tranh chấp tài nguyên.

Tuy nhiên, AI cũng được xem là “con dao hai lưỡi”. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres bày tỏ lo ngại rằng các cuộc xung đột gần đây đang trở thành “mảnh đất” thử nghiệm những ứng dụng AI vào quân sự. Nguy cơ tích hợp AI vào vũ khí hạt nhân, sự lan rộng của deep-fake và các hệ thống AI khó kiểm soát có thể đe dọa nghiêm trọng an ninh toàn cầu, gây bất ổn xã hội và làm xói mòn niềm tin.

Năm 2025 tiếp tục chứng kiến nỗ lực của các nước trong việc đảm bảo sử dụng AI an toàn, trách nhiệm, trong đó đáng chú ý là Đạo luật AI của Liên minh châu Âu đã chính thức có hiệu lực từ ngày 02/2/2025, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc quản lý và định hình tương lai của ngành công nghiệp AI và việc Đại hội đồng Liên hợp quốc (ngày 26/8/2025) đã thông qua nghị quyết thành lập hội đồng khoa học quốc tế về trí tuệ nhân tạo (AI) và khởi động đối thoại toàn cầu về quản trị AI nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và thu hẹp khoảng cách số,…

Theo các chuyên gia, năm 2026 dự báo sẽ tiếp tục chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của AI với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, trong đó yêu cầu về sử dụng AI có trách nhiệm, an toàn và đáng tin cậy ngày càng trở nên cấp thiết.

 

III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

Nghị định số 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp. Nghị định gồm 46 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:

6 trường hợp được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp: Theo Nghị định, người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 36 và Điều 38 Luật Việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau:

1- Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

2- Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

3- Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

4- Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

5- Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

6- Người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Giảm tiền đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động khi sử dụng người lao động là người khuyết tật

Nghị định nêu rõ, người sử dụng lao động khi tuyển dụng mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật thì được giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 1% xuống 0% tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người khuyết tật trong thời gian người lao động làm việc nhưng thời gian hỗ trợ không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển mới người lao động khuyết tật.

Người sử dụng lao động đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động là người khuyết tật với cơ quan bảo hiểm xã hội để được thực hiện giảm đóng theo quy định trên và kèm theo bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động.

Mức và tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp

Nghị định quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động được xác định như sau:

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng = Mức lương bình quân của 06 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp x 60%. Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì 06 tháng liền kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương của 06 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo tháng dương lịch. Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp đến ngày đó của tháng sau trừ 01 ngày, trường hợp tháng sau không có ngày tương ứng thì ngày kết thúc của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày cuối cùng của tháng đó.

Chi trả trợ cấp thất nghiệp trong 5 ngày

Cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người lao động hết thời hạn nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hết thời hạn thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng ngày.

Ngoài ra, Nghị định còn quy định nhiều nội dung quan trọng khác./.

 

[1] Quý I tăng 7,05%, quý II tăng 8,16%, quý III tăng 8,25% và quý IV đạt 8,46%.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy

Admin Ban Tuyên giáo
Tin tức sự kiện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0