I. TIN THÀNH PHỐ
1. Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố năm 2025 và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026
Năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra.
Tổng sản phẩm GRDP trên địa bàn năm 2025 ước đạt 11,81%, giữ vững năm thứ 11 liên tiếp tăng trưởng ở mức hai con số, đứng thứ 2 cả nước, cao nhất trong 06 thành phố trực thuộc trung ương, khẳng định vị thế động lực tăng trưởng của vùng Đồng bằng sông Hồng.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực: khu vực Công nghiệp - Xây dựng ước tăng 13,61%; khu vực Dịch vụ ước tăng 10,21%; khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tăng 4,33%. Thu ngân sách nhà nước năm 2025 ước đạt 187.766,6 tỷ đồng, đạt 127,4% dự toán Trung ương giao, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt 321.000 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ của vốn đầu tư từ khu vực nhà nước, ước đạt 49.269,4 tỷ đồng, tăng 21%, vượt kế hoạch năm là 46.395,5 tỷ đồng. Vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước ước đạt 137.863,6 tỷ đồng, tăng 16,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 133.867 tỷ đồng, tăng 13%.
Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu tiếp tục có sự tăng trưởng so với cùng kỳ, dự kiến đạt và vượt 18/22 chỉ tiêu chủ yếu Hội đồng nhân dân thành phố giao: Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 ước đạt 50,14 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 41,58 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước; Thu hút khách du lịch ước đạt 14,43 triệu lượt khách, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước; Số doanh nghiệp thành lập mới ước đạt 7.200 doanh nghiệp, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm trước, vượt kế hoạch năm là khoảng 6.000 doanh nghiệp; số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn ước 53.820 doanh nghiệp, tăng 25,2% so với cùng kỳ năm 2024. Số lượng căn nhà ở xã hội hoàn thành năm 2025 ước đạt 10.775 căn, vượt kế hoạch năm và chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao. Tỷ lệ số xã hoàn thành xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu ước đạt 35,8%, hoàn thành kế hoạch năm.
Thành phố đã hoàn thành báo cáo Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 226/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng, góp phần mở rộng tiềm lực và lợi thế cạnh tranh cho thành phố. Hoàn thành việc thành lập Khu thương mại tự do thành phố; trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập Khu kinh tế chuyên biệt, tạo cực tăng trưởng cân bằng giữa các không gian phát triển mới.
Thành phố tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo; ưu tiên nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng; cơ cấu lại nền kinh tế theo định hướng phát triển 03 trụ cột chủ yếu: công nghiệp công nghệ cao, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vị trí động lực tăng trưởng chính, đóng góp 44,5% trong GRDP của thành phố. Thành phố đã thành lập mới 12 khu công nghiệp và 05 cụm công nghiệp, đều định hướng phát triển theo mô hình sinh thái, công nghệ cao. Trong năm 2025 đã hoàn thành và đưa vào hoạt động đồng bộ các bến từ 1-6 Cảng quốc tế Lạch Huyện; khởi công xây dựng Nhà ga hành khách T2 Cảng Hàng không Quốc tế Cát Bi. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng ước đạt 213 triệu tấn, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2024.
Bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp sau hợp nhất đã đi vào hoạt động ổn định, bước đầu đảm bảo hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Nhiều công trình, dự án lớn đã và đang được thực hiện, nhất là các dự án trong lĩnh vực giao thông, đô thị, góp phần nâng tầm vị thế và thúc đẩy sự phát triển.
Các lĩnh vực văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác đối ngoại tiếp tục đạt nhiều kết quả nổi bật, toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần tăng cường vị thế và sức ảnh hưởng của thành phố trong hội nhập quốc tế. Tình hình trật tự an toàn xã hội, quốc phòng an ninh tiếp tục được đảm bảo và giữ vững.
Bên cạnh những kết quả tích cực, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố cũng còn tồn tại một số hạn chế: Tăng trưởng kinh tế chưa đạt như kỳ vọng, tốc độ GRDP ước đạt 11,81% nhưng chưa đạt mục tiêu kế hoạch cả năm (12,35%). Sự phụ thuộc vào một số thị trường chủ lực tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối và bị động khi xảy ra biến động. Quá trình vận hành chính quyền hai cấp còn khó khăn, vướng mắc…
Trong năm 2026, với Chủ đề “Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”, Thành phố phấn đấu tăng trưởng cao và bền vững, lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là trọng tâm. Phát huy hiệu quả cơ chế, chính sách đặc thù của thành phố; phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ; xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng biển công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái, là trung tâm kinh tế biển, du lịch chất lượng cao, dịch vụ - logistics và năng lượng sạch hàng đầu cả nước. Vận hành có hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Mở rộng liên kết vùng, nâng cao hiệu quả đối ngoại và vị thế quốc tế.
Trong đó, tập trung thực hiện quyết liệt, bám sát các định hướng, mục tiêu đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ nhất nhiệm kỳ 2025-2030 và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, Thành ủy, Hội đồng nhân dân thành phố về phát triển kinh tế – xã hội 05 năm 2026-2030 và năm 2026.
Triển khai có hiệu quả các Chương trình/Kế hoạch hành động của Thành ủy, Kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố tổ chức thực hiện 07 Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Tập trung nguồn lực ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, đặc biệt là hạ tầng số, hạ tầng giao thông liên vùng, cảng biển, sân bay, hạ tầng năng lượng và đô thị thông minh. Xây dựng cơ chế điều tiết ngân sách, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tạo động lực cho các xã, phường, đặc khu chủ động nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 226/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố, đặc biệt là Khu thương mại tự do thế hệ mới.
Bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội, gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Xây dựng Hải Phòng trở thành trung tâm du lịch biển, văn hóa và di sản tầm khu vực và quốc tế với các sản phẩm du lịch đặc thù. Chú trọng đầu tư cho giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp; đảm bảo hiệu năng, hiệu lực, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển của thành phố. Chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2030.
2. Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri sau Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XV
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Chiều ngày 12/12/2025, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri để báo cáo kết quả Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XV. Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại Trung tâm hội nghị - Biểu diễn thành phố và 114 xã, phường, đặc khu. Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tham dự gồm có các đồng chí: Nguyễn Hồng Diên, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương; Lê Tiến Châu, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố; Đỗ Mạnh Hiến, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy; Lê Văn Hiệu, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố, cùng các thành viên Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố. Đại biểu thành phố dự Hội nghị có các đồng chí: Lê Ngọc Châu, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố; Phạm Văn Lập, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy cùng đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành thành phố và cử tri cùng dự.
Tại Hội nghị, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Lã Thanh Tân thông báo kết quả kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XV và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tại kỳ họp. Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XV đã xem xét, thông qua 51 Luật, 39 Nghị quyết, hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra sau 40 ngày làm việc liên tục. Các vị đại biểu Quốc hội thành phố đã tích cực tham gia thảo luận với 126 lượt đăng ký tại tổ và hội trường.
Cử tri thành phố bày tỏ sự trân trọng và đánh giá cao kết quả Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XV, đồng thời ghi nhận sự chủ động, tích cực của Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng trong việc chuyển tải đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của cử tri đến Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền. Cử tri đã đưa ra nhiều kiến nghị quan trọng liên quan đến việc hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành các luật giáo dục, mô hình trung học nghề và phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, cơ chế phối hợp giữa đại học và địa phương, hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon trong nước, cơ chế đặc thù về định mức biên chế hành chính và viên chức cấp phường và chính sách tiền lương. Ngoài ra, cử tri còn kiến nghị về Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, chính sách dân số và an toàn trên không gian mạng cho trẻ em và vấn đề nhà ở xã hội cho người lao động.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Lê Tiến Châu, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố thông tin về một số kết quả nổi bật của thành phố năm 2025, như tăng trưởng kinh tế ước đạt 11,81%, tổng thu ngân sách nhà nước đạt gần 188 nghìn tỷ đồng, và thu nội địa lần đầu cán mốc 100.000 tỷ đồng. Đồng chí cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế và đề xuất chủ đề năm 2026 là “Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”. Thành phố sẽ tập trung cao cho công tác quy hoạch, thể chế hóa và vận hành hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết 226 của Quốc hội, siết chặt tiến độ triển khai các dự án đang triển khai và ưu tiên nguồn lực để triển khai các Đề án, Nghị quyết về nâng cao năng lực hệ thống y tế và giáo dục. Đồng chí Lê Tiến Châu cảm ơn, tiếp thu và ghi nhận các ý kiến, kiến nghị của cử tri, đồng thời đề nghị lãnh đạo UBND thành phố chỉ đạo các sở, ban, ngành có văn bản trả lời đầy đủ, cụ thể. Với ý kiến thuộc thẩm quyền giải quyết của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố tổng hợp, báo cáo, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị chính đáng của cử tri.
3. Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách bố trí vốn ngân sách địa phương ủy thác để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 32, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 35/2025/NQ-HĐND quy định cơ chế, chính sách bố trí vốn ngân sách địa phương ủy thác để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội.
Nghị quyết được ban hành nhằm hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn thành phố. Nghị quyết này không điều chỉnh các khoản vốn tín dụng chính sách được cấp từ ngân sách Trung ương hoặc các nguồn vốn ủy thác khác theo quy định của pháp luật.
Theo Nghị quyết, mức cho vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tối đa là 100 triệu đồng/hộ. Thời hạn cho vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo tối đa là 120 tháng, đối với hộ mới thoát nghèo tối đa là 60 tháng. Lãi suất cho vay đối với hộ nghèo là 6,24%/năm, đối với hộ cận nghèo bằng 120% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo, đối với hộ mới thoát nghèo bằng 125% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo.
Cơ chế, chính sách cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mức vay vốn tối đa là 04 triệu đồng/tháng/học sinh, sinh viên. Thời hạn cho vay thực hiện theo quy định tại Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Lãi suất cho vay là 6,24%/năm, lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất cho vay.
Mức cho vay thực hiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tối đa là 25 triệu đồng/01 loại công trình/khách hàng. Khách hàng được vay vốn để đầu tư mới, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa 02 loại công trình nước và vệ sinh môi trường hộ gia đình nhưng tổng dư nợ mỗi loại công trình không vượt quá mức cho vay tối đa của mỗi loại công trình. Thời hạn cho vay do Ngân hàng Chính sách xã hội thỏa thuận với khách hàng nhưng tối đa là 05 năm (60 tháng). Lãi suất cho vay là 8,4%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.
Đối với người chấp hành xong án phạt tù, mức vốn cho vay để đào tạo nghề tối đa là 04 triệu đồng/tháng/người. Đối với vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, mức vốn cho vay tối đa là 100 triệu đồng/người chấp hành xong án phạt tù; mức vốn cho vay tối đa là 02 tỷ đồng/dự án của cơ sở sản xuất kinh doanh và không quá 100 triệu đồng/người lao động tại cơ sở sản xuất kinh doanh. Thời hạn cho vay thực hiện theo quy định tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ. Lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo quy định theo từng thời kỳ, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.
Trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội thì mức vốn cho vay tối đa bằng 80% giá trị Hợp đồng mua, thuê mua nhà. Trường hợp xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở thì mức vốn cho vay tối đa bằng 70% giá trị dự toán hoặc phương án sử dụng vốn, tối đa không quá 01 tỷ đồng, có căn cứ suất vốn đầu tư xây dựng, đơn giá xây dựng nhà ở của cấp có thẩm quyền và không vượt quá 70% giá trị tài sản bảo đảm tiền vay. Thời hạn vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng và tối đa không quá 25 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Lãi suất cho vay là 5,4%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.
Mức vốn cho vay đối với học sinh, sinh viên, học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán đối với 01 người học để hỗ trợ trang trải tiền học phí, tiền sinh hoạt phí và chi phí học tập khác tối đa là 05 triệu đồng/tháng. Thời hạn cho vay thực hiện theo quy định tại Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg ngày 28/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Lãi suất cho vay là 4,8%/năm, lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất cho vay.
Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức vay tối đa là 02 tỷ đồng/dự án và không quá 100 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Đối với người lao động, mức vay tối đa là 100 triệu đồng. Thời hạn vay vốn tối đa là 120 tháng. Mức vay tối đa 100% chi phí đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ký kết giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Thời hạn vay vốn không vượt quá thời hạn làm việc ở nước ngoài của người lao động ghi trong hợp đồng. Lãi suất vay vốn bằng lãi suất vay vốn đối với hộ cận nghèo theo quy định pháp luật về tín dụng đối với hộ cận nghèo, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất khi cho vay.
Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026.
4. Nghị quyết ban hành Quy định cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Ngày 11/12/2025, tại Kỳ họp thứ 32, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 51/2025/NQ-HĐND ban hành quy định cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030.
Đối tượng áp dụng bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình và các tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn thành phố; các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, Uỷ ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết quy định các mức hỗ trợ cho các trường hợp cụ thể. Theo đó, hỗ trợ một lần cho các tổ chức, cá nhân thuê đất nông nghiệp để phát triển sản xuất trồng trọt hàng hóa quy mô lớn với mức hỗ trợ 10 triệu đồng/ha. Hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng mới nhà lưới, nhà màng để sản xuất trồng trọt với mức hỗ trợ 100.000 đồng/m2 xây dựng.
Hỗ trợ tổ chức cá nhân sản xuất trồng trọt theo một trong các tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt tại Việt Nam (VietGAP), thực hành Nông nghiệp tốt Toàn cầu (GlobalGAP), hữu cơ, sản xuất tuân thủ các yêu cầu của luật Hồi giáo (Halal). Cụ thể, hỗ trợ chi phí tư vấn, tập huấn, đánh giá, cấp giấy chứng nhận với mức hỗ trợ 15 triệu đồng/ha khi đạt một trong các tiêu chuẩn hữu cơ, Global GAP, Halal; 5 triệu đồng/ha khi đạt tiêu chuẩn VietGAP. Hỗ trợ đánh giá duy trì chứng nhận năm thứ hai với mức hỗ trợ 1,0 triệu đồng/ha khi duy trì một trong các tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, Halal đã được cấp giấy chứng nhận tại năm trước liền kề. Hỗ trợ một lần kinh phí mua phân bón hữu cơ hoặc thuốc bảo vệ thực vật với mức hỗ trợ 05 triệu đồng/ha.
Hỗ trợ một lần tối đa 30% kinh phí (không quá 200 triệu đồng/máy, thiết bị) cho các tổ chức, cá nhân đầu tư máy móc, thiết bị mới phục vụ sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản (máy làm đất, máy cấy, máy gặt đập liên hợp, thiết bị bay không người lái, thiết bị cuốn rơm rạ, máy sấy thóc, kho lạnh phục vụ bảo quản, chế biến sản phẩm sau thu hoạch, máy móc, thiết bị bảo quản, chế biến nông sản). Tối đa không quá 01 tỷ đồng/tổ chức, cá nhân.
Hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức, cá nhân về xây lắp mới hoặc mở rộng, cải tạo nâng cấp: lồng bè, ao, bể để nuôi thủy sản, sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản, nhà bạt, hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý môi trường; mua mới máy móc, thiết bị, con giống, vật tư (thức ăn công nghiệp, thuốc, chế phẩm sinh học) phục vụ nuôi trồng thủy sản thâm canh, ứng dụng công nghệ cao. Cụ thể, hỗ trợ một lần 30% chi phí xây lắp mới hoặc mở rộng, cải tạo nâng cấp cơ sở; mua mới máy móc, thiết bị, theo thực tế với mức hỗ trợ tối đa 300 triệu đồng/ha nuôi trồng thủy sản, 300 triệu đồng/cơ sở nuôi trồng thủy sản lồng bè hoặc cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản. Hỗ trợ một lần 30% chi phí mua mới con giống, vật tư, theo thực tế với mức hỗ trợ tối đa 70 triệu đồng/ha nuôi trồng thủy sản,70 triệu đồng/cơ sở nuôi trồng thủy sản lồng bè.
Hỗ trợ một lần 100% chi phí đánh giá cấp giấy chứng nhận cơ sở nuôi trồng thủy sản, cơ sở chăn nuôi áp dụng quy trình VietGAP, cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh với mức hỗ trợ tối đa 70 triệu đồng/cơ sở. Hỗ trợ một lần 100% chi phí đánh giá giám sát trong năm thứ hai với mức hỗ trợ tối đa 25 triệu đồng/cơ sở.
Căn cứ Quyết định công nhận sản phẩm OCOP của cấp có thẩm quyền, ngân sách thành phố hỗ trợ cho chủ thể (tổ chức, cá nhân) có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP. Cụ thể hỗ trợ 43 triệu đồng/sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3 sao, 45 triệu đồng/sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 4 sao, 50 triệu đồng/sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 5 sao. Sản phẩm OCOP đã được nhận hỗ trợ chỉ được hỗ trợ 01 (một) lần ở cùng mức độ sao được công nhận, trường hợp được công nhận nâng hạng sao thì được hỗ trợ thêm phần chênh lệch giữa hai mức độ sao.
Nghị quyết cũng quy định hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân tham gia hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản; hỗ trợ tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp.
Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2030, thay thế Nghị quyết số 15/2021/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 của HĐND thành phố Hải Phòng, các Nghị quyết số 14/2023/NQ-HĐND ngày 06/11/2023, Nghị quyết số 19/2024/NQ-HĐND ngày 14/11/2024, Nghị quyết số 17/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019, Nghị quyết số 04/2021/NQ-HĐND ngày 30/6/2021 của HĐND tỉnh Hải Dương.
5. Nghị quyết quy định các chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng, nguồn nhân lực chất lượng cao thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Ngày 11/12/2025, tại Kỳ họp thứ 32, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 53/2025/NQ-HĐND quy định các chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng, nguồn nhân lực chất lượng cao thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 vào làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp công lập do thành phố quản lý.
Nghị quyết này áp dụng đối với người có tài năng, nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực: y tế; giáo dục; khoa học và công nghệ; công nghệ thông tin và truyền thông; công nghệ sinh học; kinh tế biển; văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ; cơ khí chế tạo; chế biến; điện tử; viễn thông; dịch vụ logistics; khoa học và công nghệ biển; công nghiệp công nghệ cao; nông nghiệp công nghệ cao; kinh tế tuần hoàn; phát triển và quản lý đô thị; quản lý quy hoạch kiến trúc; xây dựng, thi hành pháp luật và các lĩnh vực khác theo nhu cầu phát triển của thành phố giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Đối tượng áp dụng gồm có: Học sinh, sinh viên có thành tích học tập, tốt nghiệp loại giỏi, loại xuất sắc, có tố chất, năng khiếu nổi trội từ các cơ sở giáo dục, đào tạo; những người có học vị, học hàm Thạc sĩ, Bác sĩ chuyên khoa cấp I, dược sĩ chuyên khoa cấp I chuyên ngành y học, dược học (sau đây gọi là Thạc sĩ và tương đương); Bác sĩ nội trú; Tiến sĩ, Bác sĩ chuyên khoa cấp II, dược sĩ chuyên khoa cấp II chuyên ngành y học, dược học (sau đây gọi là Tiến sĩ và tương đương); giáo sư, phó giáo sư; cá nhân có các công trình nghiên cứu được công nhận và ứng dụng hiệu quả cao vào đời sống thực tiễn; cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có năng lực nổi trội, luôn hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, công vụ; chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động trong nước có trình độ cao năng lực vượt trội và kinh nghiệm thực tiễn đang làm việc ở các lĩnh vực, khu vực, địa bàn khác; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối tượng hưởng chính sách quy định tại Nghị quyết phải đảm bảo còn tối thiểu 10 năm công tác (trừ Giáo sư, Phó Giáo sư) sau khi được tuyển dụng, tiếp nhận.
Theo Nghị quyết, Thành phố cấp học bổng 100% học phí học tập theo quy định đối với học sinh, sinh viên học sau đại học có thành tích học tập xuất sắc và đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định của Nghị quyết, cam kết trong vòng 02 năm sau khi tốt nghiệp làm việc tại các cơ quan, đơn vị quy định tại Nghị quyết này tối thiểu là 05 năm.
Nghị quyết cũng quy định chính sách hỗ trợ một lần đối với các đối tượng được quy định tại Nghị quyết (trừ đối tượng đã được hưởng chính sách học bổng trên) sau khi được tuyển dụng, tiếp nhận và cam kết làm việc cho các cơ quan, đơn vị quy định tại Nghị quyết ít nhất từ 05 năm trở lên và đúng với ngành, nghề thành phố cần thu hút theo từng năm, từng thời kỳ. Mức kinh phí hỗ trợ một lần sau khi được tuyển dụng, tiếp nhận từ 150 triệu đồng đến 500 triệu đồng theo từng đối tượng. Trường hợp đối tượng đủ điều kiện hưởng chính sách thu hút hỗ trợ một lần theo các Nghị quyết khác nhau của thành phố thì được hưởng một chính sách cao nhất.
Ngoài việc được hưởng tiền lương, phụ cấp và các chế độ, chính sách khác theo quy định, cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện thuộc đối tượng thu hút tại Nghị quyết này (trừ chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao được cấp có thẩm quyền của thành phố ký hợp đồng đặt hàng) còn được hưởng chính sách hỗ trợ về thu nhập khi được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hàng năm. Mức hỗ trợ từ 1,5 đến 4,0 lần mức lương tối thiểu vùng nhân số tháng làm việc thực tế trong năm theo từng đối tượng. Thời gian áp dụng trong 05 năm kể từ ngày có quyết định tuyển dụng hoặc tiếp nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Nghị quyết cũng quy định chính sách đặt hàng chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt thực hiện các công trình, nhiệm vụ của thành phố với mức chi trả kinh phí theo hợp đồng từ 30 - 100 triệu đồng/chuyên gia/tháng. Trường hợp được Hội đồng nghiệm thu cấp thành phố xếp loại xuất sắc và được áp dụng rộng rãi vào thực tiễn được thành phố thưởng bằng 25% tổng kinh phí ngân sách chi trả cho đề tài đó, mức thưởng tối đa không quá 500 triệu đồng/đề tài.
Trường hợp các đối tượng được thu hút từ địa phương khác đến thành phố Hải Phòng làm việc thì được hỗ trợ đi lại cho cá nhân và gia đình với mức hỗ trợ bằng 5 triệu đồng/tháng trong thời gian công tác và được ưu tiên mua nhà ở xã hội khi có nhu cầu.
Thành phố tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng đối với người có tài năng, nguồn nhân lực chất lượng cao sau khi được tuyển dụng, tiếp nhận. Cán bộ, công chức, viên chức thuộc đối tượng quy định tại Nghị quyết có các công trình, đề án, đề tài, giải pháp sáng tạo kỹ thuật, sáng kiến được cấp thành phố trở lên công nhận và xếp loại xuất sắc và được áp dụng hiệu quả, thiết thực được nhân rộng trong thực tiễn thì ngoài được hưởng các chế độ theo quy định còn được thưởng 20% giá trị đem lại và tối đa không quá 500 triệu đồng/giải pháp, sáng kiến.
Nghị quyết cũng quy định cụ thể về việc thôi áp dụng chính sách đối với người có tài năng, nguồn nhân lực chất lượng cao và mức đền bù kinh phí hỗ trợ trong các trường hợp cụ thể.
Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026, bãi bỏ một số Điều của Nghị quyết số 20/2024/NQ-HĐND ngày 06/12/2024 của HĐND thành phố Hải Phòng và bãi bỏ Nghị quyết số 08/2019/NQ-HĐND ngày 11/7/2019 của HĐND tỉnh Hải Dương.
6. Nghị quyết phát triển thanh niên thành phố Hải Phòng đến năm 2030
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Tại Kỳ họp thứ 32, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 83/NQ-HĐND, ngày 11/12/2025 về phát triển thanh niên thành phố Hải Phòng đến năm 2030.
Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát là xây dựng thế hệ thanh niên thành phố Hải Phòng phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có ý chí tự cường, tự hào dân tộc; có đạo đức, ý thức công dân, có lý tưởng, hoài bão; có sức khỏe và lối sống lành mạnh; có văn hóa, kiến thức, trình độ học vấn, kỹ năng sống, nghề nghiệp và việc làm; có ý chí lập thân, lập nghiệp, năng động, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ; phát triển nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của thành phố. Phát huy vai trò, trách nhiệm và nâng cao tính xung kích, tình nguyện, trách nhiệm của thanh niên trong việc xây dựng và phát triển Hải Phòng trở thành thành phố Cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống tầm cỡ khu vực Đông Nam Á, tiên phong trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo; là trung tâm kinh tế biển, du lịch chất lượng cao, dịch vụ - logistics và năng lượng sạch hàng đầu cả nước, trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ biển.
Nghị quyết đề ra 07 mục tiêu và 25 chỉ tiêu cụ thể về phát triển thanh niên thành phố Hải Phòng đến năm 2030, trong đó đặt ra mục tiêu hàng năm, 100% thanh niên là cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên trong lực lượng vũ trang được tuyên truyền, phổ biến, học tập nghị quyết của các cấp ủy Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 100% thanh niên là học sinh, sinh viên, 90% thanh niên công nhân, thanh niên nông thôn được trang bị kiến thức về quốc phòng và an ninh, các kiến thức liên quan đến phòng, chống các tệ nạn xã hội, các kiến thức liên quan đến đời sống, học tập và việc làm của thanh niên; 100% thanh niên là học sinh, sinh viên được giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kiến thức pháp luật, kỹ năng sống, kỹ năng mềm và các kiến thức xã hội phù hợp; phấn đấu trên 30% ý tưởng, dự án khởi nghiệp là của thanh niên, trong đó phấn đấu 40% số ý tưởng, dự án khởi nghiệp của thanh niên là học sinh, sinh viên được kết nối với các doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc được hỗ trợ đầu tư từ nguồn kinh phí phù hợp; 95% thanh niên đô thị và thanh niên ở nông thôn được tạo điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, hoạt động sinh hoạt cộng đồng nơi học tập, làm việc và cư trú; phấn đấu 100% thanh niên được tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, văn hóa truyền thống; 100% cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai các giải pháp tăng cường công tác nắm bắt dư luận trong thanh niên, kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh có liên quan đến thanh niên.
Hàng năm, phấn đấu có ít nhất 40.000 thanh niên được giải quyết việc làm. Đến năm 2030, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp ở đô thị dưới 3,5%; tỷ lệ thanh niên thiếu việc làm ở nông thôn dưới 4%. 100% thanh niên là học sinh, sinh viên tham gia bảo hiểm y tế và được chăm sóc sức khỏe ban đầu; 95% thanh niên công nhân làm việc tại các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế được khám sức khỏe và chăm sóc y tế định kỳ.
Đến năm 2030, trên 95% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ trung học phổ thông và tương đương; tăng 15% số thanh niên được ứng dụng, triển khai ý tưởng sáng tạo, công trình nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất và đời sống; tăng 15% số công trình khoa học và công nghệ do thanh niên chủ trì; tăng 10% số thanh niên làm việc trong các tổ chức khoa học, công nghệ (so với năm 2020); phấn đấu 30% thanh niên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được đưa vào quy hoạch lãnh đạo cấp sở, phòng và tương đương; 15% thanh niên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo quản lý.
Để đạt được các mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, bao gồm: tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp; hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về thanh niên; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật; tăng cường, đổi mới hình thức cung cấp dịch vụ các hỗ trợ thanh niên; đẩy mạnh hợp tác trong nước và quốc tế trong thực hiện Nghị quyết; hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và thanh niên.
Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày được thông qua, thay thế các nội dung tương ứng tại Nghị quyết số 25/NQ-HĐND ngày 20/7/2022 của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng và Nghị quyết số 52/NQ-HĐNĐ ngày 08/12/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương (trước sắp xếp).
II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI
1. Một số nội dung quan trọng về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước và từng địa phương; được tổ chức vào thời điểm đất nước tiến hành công cuộc đổi mới gần 40 năm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, vị thế của nước ta trong khu vực và trên trường quốc tế ngày càng lớn mạnh. Cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp là hành trang mới, tạo khí thế mới đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, thịnh vượng.
Cùng với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được Đảng, Quốc hội, Chính phủ xác định là những nhiệm vụ công tác trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong năm 2026; là đợt vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng trong mọi tầng lớp Nhân dân để lựa chọn, bầu được những đại biểu ưu tú, đại diện cho Nhân dân cả nước tại Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và các đại biểu đại diện cho Nhân dân địa phương tại Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương trong nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Triển khai nội dung này, ngày 16/5/2025 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 199/2025/QH15 ngày 21/5/2025 về việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; theo đó, Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ được tiến hành vào Chủ nhật, ngày 15/3/2026. Ngày 25/6/2025, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia, gồm 19 thành viên. Ngày 18/9/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 28/CT-TTg về tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Chỉ thị phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan trong triển khai sự kiện quan trọng này.
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, ngày 15/11/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu chỉ đạo và nhấn mạnh một số vấn đề trọng tâm sau:
Thứ nhất, tập trung lãnh đạo thật tốt công tác nhân sự - khâu then chốt nhất của bầu cử. Việc giới thiệu người ứng cử phải được tiến hành công khai, minh bạch, lắng nghe ý kiến rộng rãi từ cơ sở, nhưng phải bảo đảm chặt chẽ, gắn liền với quy hoạch cán bộ, với kết quả đại hội đảng các cấp và bám sát yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; bảo đảm tính kế thừa, liên thông và đổi mới. Cơ cấu đại biểu cần bảo đảm sự đại diện hài hòa giữa các ngành, các tầng lớp, giới, độ tuổi, vùng miền; có tỷ lệ phù hợp đại biểu chuyên trách, đại biểu nữ, đại biểu trẻ, đại biểu là người dân tộc thiểu số, đại biểu là trí thức, công nhân, nông dân, doanh nhân, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo,... để Quốc hội và HĐND thật sự là diện mạo sinh động của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phấn đấu bầu đủ số lượng, cơ cấu đại biểu, nhưng chất lượng đại biểu phải được đặt lên hàng đầu. Đại biểu Quốc hội và HĐND phải thực sự là người đại diện trung thành của Nhân dân, nói tiếng nói của dân, lo việc của dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân - trực tiếp là Nhân dân nơi khu vực bỏ phiếu của mình. Phải lựa chọn giới thiệu được những người thật sự tiêu biểu về phẩm chất và năng lực. Đó phải là những đồng chí có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Tổ quốc và Nhân dân, có đức, có tài, đáp ứng đủ các tiêu chuẩn luật định và có đủ điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ của người đại biểu Nhân dân. Đồng thời, những người được giới thiệu phải có đủ điều kiện về sức khỏe, thời gian để tham gia và hoàn thành tốt trọng trách khi trúng cử. Nhiệm kỳ 2026 - 2031 là giai đoạn then chốt để hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước với yêu cầu đặt ra rất cao. Vì vậy, chúng ta cần ưu tiên giới thiệu những người có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có tầm nhìn và năng lực tham gia hoạch định chính sách kiến tạo cho phát triển địa phương và đất nước trong giai đoạn mới.
Ngược lại, cần sàng lọc kỹ lưỡng, kiên quyết loại bỏ ngay từ đầu những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, bảo thủ, tư tưởng bè phái, cục bộ, địa phương; những cá nhân có uy tín thấp, đạo đức kém, thiếu trung thực hoặc đang có dấu hiệu vi phạm bị các cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra,... Đồng thời, cũng cần đánh giá việc trong thời gian qua một số Đại biểu Quốc hội, HĐND bị kỷ luật; một số lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vi phạm pháp luật…, từ đó rút kinh nghiệm để lựa chọn giới thiệu nhân sự cho nhiệm kỳ tới. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật và sự trong sạch của đội ngũ cán bộ, bảo đảm cơ quan dân cử nhiệm kỳ tới thực sự gồm những đại biểu ưu tú, liêm chính, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và Nhân dân lên trên hết, trước hết.
Thứ hai, tổ chức tốt việc hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong suốt quá trình bầu cử. Các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức các hội nghị hiệp thương ở các cấp để lập danh sách người ra ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND theo đúng quy trình luật định. Phát huy vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong quá trình hiệp thương, giới thiệu người ứng cử cũng như giám sát quá trình bầu cử. Toàn bộ quy trình hiệp thương phải được tiến hành dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch theo đúng quy định pháp luật; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện, kiên quyết không để xảy ra những hiện tượng tiêu cực như vận động không lành mạnh, "chạy" suất ứng cử, "chạy" phiếu bầu hoặc lợi ích nhóm làm sai lệch ý nghĩa cuộc bầu cử. Phải tạo điều kiện thuận lợi nhất để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, quyền bầu cử của mình theo đúng luật, tuyệt đối không để bất kỳ hành vi cản trở trái phép nào xâm phạm quyền làm chủ của Nhân dân.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo không khí phấn khởi, đồng thuận trong xã hội và nâng cao ý thức, trách nhiệm của cử tri. Tuyên truyền sâu rộng để mọi cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử, thấy được vinh dự, trách nhiệm của mỗi lá phiếu cử tri đối với tương lai của đất nước. Mỗi địa phương, mỗi cơ quan, đoàn thể nên phát động các phong trào thi đua sôi nổi chào mừng bầu cử; tổ chức các diễn đàn, hội nghị tiếp xúc cử tri, hội thi tìm hiểu pháp luật về bầu cử,… phù hợp với điều kiện cụ thể, tạo nên không khí chính trị sôi động, thật sự là ngày hội của toàn dân. Động viên, khích lệ mọi cử tri tự giác, tích cực tham gia bầu cử, phấn đấu đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cao nhất, thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, không phải là "bỏ phiếu cho xong". Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, không chỉ tự mình đi bầu đầy đủ, đúng luật, mà còn phải vận động gia đình, người thân, Nhân dân xung quanh cùng hăng hái tham gia bầu cử. Đây là dịp để cán bộ, đảng viên gần dân, sát dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, tham gia tuyên truyền, vận động, định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội để bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra thành công tốt đẹp.
Thứ tư, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và xử lý kịp thời các vấn đề trong bầu cử. Công tác bảo vệ an ninh, an toàn bầu cử phải được chuẩn bị một cách chủ động, toàn diện, chặt chẽ. Các lực lượng chức năng tăng cường nắm tình hình, kịp thời phát hiện và xử lý dứt điểm những vấn đề phát sinh, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động có phương án ứng phó hiệu quả với các tình huống bất thường về thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, thời tiết cực đoan, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho người dân, cơ sở vật chất và toàn bộ tiến trình bầu cử. Mọi khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử phải được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. Kiên quyết đấu tranh phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc, kích động, lợi dụng bầu cử để chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; không để các thế lực xấu lợi dụng dân chủ, lợi dụng quá trình bầu cử để gây rối, vi phạm pháp luật.
Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, tổ chức trong toàn hệ thống chính trị để tổ chức thành công cuộc bầu cử. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành công tác bầu cử, từ khâu lập và cập nhật danh sách cử tri, hỗ trợ hiệp thương cho đến báo cáo kết quả bầu cử,…; song phải đặc biệt lưu ý bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo mật thông tin, không để xảy ra sai sót, lộ lọt dữ liệu. Các khâu trong quá trình tổ chức cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến địa phương. Hội đồng bầu cử quốc gia; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Trung ương; các ban, bộ, ngành ở Trung ương cần phối hợp chặt chẽ, thống nhất hành động, tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, hỗ trợ các địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong toàn quốc. Các tỉnh ủy, thành ủy khẩn trương thành lập Ban chỉ đạo ở địa phương để lãnh đạo toàn diện công tác bầu cử trên địa bàn, không để bị động, lúng túng ở bất cứ khâu nào. Thời gian từ nay đến ngày bầu cử (15/3/2026), các cấp, các ngành bắt tay ngay vào hành động, làm việc thật cụ thể, thiết thực, hiệu quả, không hình thức; phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian hoàn thành; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ và chất lượng công việc, chuẩn bị tốt nhất các điều kiện để tổ chức thành công cuộc bầu cử.
2. Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Đảng
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
* Kết luận số 215-KL/TW ngày 23/11/2025 của Bộ Chính trị về việc sửa đổi, bổ sung Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/2/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân
Kết luận số 215-KL/TW sửa đổi, bổ sung Quy định số 11-QĐi/TW như sau:
Sửa đổi Khoản 2, Điều 1 như sau: "2. Quy định này áp dụng đối với người đứng đầu cấp ủy cấp tỉnh, cấp ủy cấp xã; người phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo là người dân, cán bộ, đảng viên, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan".
Sửa đổi Khoản 8, Điều 3 như sau: "8. Định kỳ hằng tháng, quý I, 6 tháng, 9 tháng, năm hoặc đột xuất báo cáo tình hình, kết quả tiếp dân và xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân như sau: a) Bí thư cấp ủy cấp tỉnh báo cáo với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Nội chính Trung ương, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương. b) Bí thư cấp ủy cấp xã báo cáo với bí thư, ban nội chính, ban tuyên giáo và dân vận cấp ủy cấp tỉnh".
Sửa đổi Khoản 1, Điều 4 như sau: "1. Người đứng đầu cấp ủy tiếp dân định kỳ như sau: a) Người đứng đầu cấp ủy cấp tỉnh tiếp dân ít nhất 1 ngày trong 1 tháng. b) Người đứng đầu cấp ủy cấp xã tiếp dân ít nhất 2 ngày trong 1 tháng. Căn cứ tình hình thực tế của cấp ủy, địa phương, đơn vị, người đứng đầu cấp ủy sắp xếp và thông báo công khai thời gian cố định tiếp dân trong tháng".
Sửa đổi tên gọi Điều 5 như sau: “Điều 5. Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người đứng đầu cấp ủy".
Sửa đổi tên gọi Điều 7 như sau: “Điều 7. Việc xử lý đơn, thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo gửi đến cơ quan, đơn vị của người đứng đầu cấp ủy".
Sửa đổi Khoản 2, Điều 9 như sau: "2. Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương tham mưu, giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Quy định; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc cần bổ sung, sửa đổi thì báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định".
Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Kết luận này. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, bất cập, kịp thời báo cáo Bộ Chính trị (qua Ban Nội chính Trung ương).
* Kết luận số 217-KL/TW ngày 23/11/2025 của Ban Bí thư về việc sửa đổi, bổ sung Quy định số 194-QĐ/TW ngày 23/5/2019 của Ban Bí thư về phối hợp giữa Ban Nội chính Trung ương với các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương trong công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng và cải cách tư pháp
Kết luận 217-KL/TW nêu rõ: Tại phiên họp ngày 31/10/2025, sau khi nghe Ban Nội chính Trung ương báo cáo về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quy định số 194-QĐ/TW, ngày 23/5/2019 của Ban Bí thư về phối hợp giữa Ban Nội chính Trung ương với các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương trong công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng và cải cách tư pháp (Tờ trình số 81-TTr/BNCTW, ngày 19/9/2025), ý kiến của các cơ quan liên quan, Ban Bí thư đã thảo luận và kết luận sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quy định số 194-QĐ/TW.
Theo đó, sửa đổi tên gọi Quy định như sau: "Quy định về phối hợp giữa Ban Nội chính Trung ương với các tỉnh uỷ, thành uỷ trong công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp".
Rà soát, bổ sung cụm từ "lãng phí, tiêu cực" trong toàn bộ Quy định ở những chỗ có cụm từ "nội chính, phòng, chống tham nhũng và cải cách tư pháp" thành cụm từ mới "nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp". Thay thế cụm từ "cấp ủy cấp huyện" bằng cụm từ "cấp ủy cấp xã" tại toàn bộ Quy định.
Ban Bí thư yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thực hiện nghiêm túc Kết luận này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, kịp thời báo cáo Ban Bí thư (qua Ban Nội chính Trung ương).
3. Công tác khuyến nông khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Ngày 03/10/2025, đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trì buổi làm việc với Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện nhiệm vụ khuyến nông ở địa phương khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Tổng Bí thư kết luận như sau:
Cấp tỉnh, thành phố duy trì các Trung tâm khuyến nông, chủ yếu làm nhiệm vụ hướng dẫn, điều phối, đôn đốc, kiểm tra và hỗ trợ cấp xã thực hiện công tác khuyến nông. Không tổ chức các Trạm khuyến nông khu vực, liên xã. Cấp xã thành lập đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện dịch vụ công cơ bản thiết yếu đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có chức năng, nhiệm vụ khuyến nông; cấp ủy, chính quyền cấp xã phải quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác khuyến nông, không "khoán trắng" cho đơn vị sự nghiệp công lập. Tiếp tục củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổ khuyến nông cộng đồng, tăng cường tuyên truyền phổ biến kiến thức, kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ, hướng dẫn nông dân liên kết phát triển sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở cán bộ khuyến nông tại cấp tỉnh và các trạm khuyến nông khu vực, liên xã sẽ phân công về các xã, phối hợp với các cán bộ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ở các xã hiện có, bảo đảm ít nhất mỗi xã có 5 - 6 cán bộ khuyến nông, không tăng tổng số biên chế cán bộ khuyến nông. Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Đảng ủy Bộ Nội vụ phối hợp với Đảng ủy Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện theo định hướng trên, hoàn thành trước ngày 15/10/2025; các địa phương sắp xếp thành lập đơn vị sự nghiệp cấp xã xong trước ngày 30/10/2025.
Thực hiện Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm và định hướng của Ban Chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp tại Công văn số 145/CV-BCĐ ngày 08/10/2025 về việc kiện toàn hệ thống tổ chức thực hiện nhiệm vụ khuyến nông ở địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 60/2025/TT-BNNMT ngày 14/10/2025 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện công tác khuyến nông cấp tỉnh, cấp xã và Quyết định số 4296/QĐ-BNNMT ngày 16/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển khuyến nông đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo đề nghị của các tỉnh, thành phố, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành công văn hướng dẫn củng cố, kiện toàn cộng tác viên khuyến nông và tổ khuyến nông cộng đồng như sau:
Trên cơ sở các Tổ Khuyến nông cộng đồng (KNCĐ) đã được thành lập và hoạt động trong giai đoạn 2022 - 2025, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành rà soát, đánh giá, củng cố, kiện toàn Tổ KNCĐ phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Trong đó cần lưu ý một số vấn đề sau: Tổ KNCĐ là tổ chức khuyến nông tự nguyện có vai trò kết nối, vận động các doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tham gia hoạt động khuyến nông và thúc đẩy xã hội hóa khuyến nông tại địa phương. Nhân sự tham gia Tổ KNCĐ là những người có tâm huyết, trách nhiệm, năng động, sáng tạo, chủ động tìm kiếm cơ hội và kết nối thị trường. Trong đó viên chức khuyến nông cấp xã là nòng cốt, giữ vai trò định hướng, điều phối hoạt động và liên kết các thành viên tham gia. Các hoạt động của Tổ KNCĐ gắn với nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, xây dựng vùng nguyên liệu, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị sản phẩm. Chính quyền địa phương quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để Tổ KNCĐ hoạt động. Ủy ban nhân dân cấp xã phân công 01 đồng chí lãnh đạo phụ trách lĩnh vực khuyến nông, khuyến nông cộng đồng để chỉ đạo, điều phối hoạt động.
Các tỉnh, thành phố quan tâm duy trì, phát huy đội ngũ cộng tác viên khuyến nông là các trưởng thôn, trưởng bản, cán bộ phong trào, đoàn thể tại địa phương. Đây là cánh tay nối dài của ngành nông nghiệp ở cơ sở, tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh, nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân và tiếp nhận thông tin phản hồi về cơ chế, chính sách của Nhà nước.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy chế phối hợp công tác khuyến nông; trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, định mức, chế độ đãi ngộ đối với cộng tác viên khuyến nông, Tổ KNCĐ. Trung tâm Khuyến nông cấp tỉnh tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ viên chức khuyến nông, cộng tác viên khuyến nông, Tổ KNCĐ. Ủy ban nhân dân cấp xã bố trí địa điểm, hỗ trợ trang thiết bị làm việc, có chế độ khen thưởng, động viên, vinh danh các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong hoạt động khuyến nông, khuyến nông cộng đồng.
4. Kết quả chuyến thăm cấp Nhà nước tới Lào của Tổng Bí thư Tô Lâm
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Từ ngày 01 - 02/12/2025, nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith và Phu nhân, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Lào, dự Lễ kỷ niệm 50 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; đồng chủ trì Cuộc gặp cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.
Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư Tô Lâm đã hội đàm với đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith; hội kiến các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt của Lào; thăm các đồng chí nguyên là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào; dự Lễ khánh thành Công viên Hữu nghị Lào - Việt Nam. Đặc biệt, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu quan trọng tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào, được truyền hình trực tiếp đến toàn thể nhân dân trên đất nước Lào.
Chuyến thăm đã diễn ra thành công, thể hiện ở các dấu ấn nổi bật sau:
Thứ nhất, sự tham dự của Tổng Bí thư Tô Lâm, Phu nhân tại Lễ kỷ niệm 50 năm Quốc khánh Lào thể hiện tình đoàn kết Việt - Lào, sự coi trọng lẫn nhau đối với những thành tựu của hai đảng, hai nước, đúng với truyền thống và phương châm “coi thắng lợi của bạn cũng chính là thắng lợi của mình".
Lãnh đạo và nhân dân Lào đánh giá đây là một nguồn động viên rất lớn từ những người đồng chí, anh em Việt Nam. Sự quý trọng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào dành cho Việt Nam đã thể hiện rõ qua sự đón tiếp hết sức trọng thị, tình cảm, đầm ấm trong suốt chuyến thăm.
Thứ hai, hai đảng, hai nước đã nhất trí đưa quan hệ lên một tầm cao mới. Từ trước đến nay, Việt Nam và Lào vẫn thúc đẩy quan hệ của mình theo phương châm 12 chữ “hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện”, thì nay quan hệ hai nước nâng lên 16 chữ vàng với yếu tố mới là “gắn kết chiến lược". Điều này thể hiện tầm nhìn chung, định hướng chung và nỗ lực chung của hai dân tộc trên những vấn đề chiến lược trong giai đoạn mới, không chỉ về chính trị mà còn gắn kết chặt chẽ về kinh tế qua kết nối liên thông cơ sở hạ tầng, quy hoạch phát triển kinh tế và gắn kết đặc biệt giữa nhân dân hai nước, phát huy truyền thống, các cơ chế và phương thức đã có.
Thứ ba, hai bên nhất trí cụ thể hóa các phương hướng hợp tác chiến lược trong thời gian tới, trong đó hợp tác chính trị là mũi nhọn, là kim chỉ nam của quan hệ Việt - Lào; quốc phòng, an ninh là một trong những trụ cột quan trọng để đảm bảo hòa bình, ổn định của hai nước phục vụ phát triển; hợp tác kinh tế - xã hội phải đột phá để hai nước cùng nhau vươn mình trong thời gian tới, phát huy mạnh mẽ truyền thống giữa hai dân tộc.
Chuyến thăm diễn ra ngay trước thềm hai đảng, hai nước hướng tới Đại hội Đảng năm 2026. Nhân dịp này hai bên đã cùng nhau tổng kết, đánh giá thành tựu và đề ra định hướng tương lai, vun đắp nguồn sức mạnh chung cho hai đảng, hai nước sẵn sàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới của hai dân tộc. Nguồn sức mạnh đó là động lực hết sức to lớn để Việt Nam và Lào có thêm bệ phóng để phát triển hơn nữa.
Dịp này, Đảng và Nhà nước Lào đã trao tặng Tổng Bí thư Tô Lâm Huân chương Vàng quốc gia, huân chương cao quý nhất của Lào để ghi nhận những đóng góp to lớn của Tổng Bí thư Tô Lâm cho quan hệ Lào - Việt Nam.
5. Một số kết quả chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Quốc vương Brunei Darussalam Haji Hassanal Bolkiah
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Từ ngày 30/11 - 02/12/2025, nhận lời mời của Chủ tịch nước Lương Cường, Quốc vương Brunei Darussalam Haji Hassanal Bolkiah thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam.
Trong thời gian thăm Việt Nam, Quốc vương Haji Hassanal Bolkiah đã dự lễ đón chính thức, hội đàm với Chủ tịch nước Lương Cường, có cuộc gặp với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm, hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.
Tại các cuộc tiếp, hội đàm, hội kiến, Lãnh đạo Việt Nam chào mừng Quốc vương Brunei trở lại thăm Việt Nam lần thứ bảy, tin tưởng chuyến thăm lần này sẽ thúc đẩy quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam - Brunei phát triển ngày càng thực chất và hiệu quả hơn. Lãnh đạo Việt Nam đánh giá cao những thành tựu to lớn mà Brunei đã đạt được trong xây dựng và phát triển đất nước, nhất là tăng trưởng kinh tế tốt, an sinh xã hội được đảm bảo với chỉ số phát triển con người được xếp vào nhóm “rất cao” trên thế giới; chúc Brunei thực hiện thành công Tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2035.
Quốc vương Haji Hassanal Bolkiah bày tỏ vui mừng được trở lại thăm Việt Nam kể từ năm 2019 và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ Đối tác Toàn diện giữa Brunei với Việt Nam. Quốc vương gửi lời chia buồn sâu sắc tới các gia đình có người thân bị nạn và thăm hỏi tới nhân dân các vùng bị ảnh hưởng bởi lũ lụt và sạt lở đất.
Lãnh đạo hai nước bày tỏ hài lòng về quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam - Brunei thời gian qua phát triển tốt đẹp; tiếp xúc cấp cao và các cấp được duy trì thường xuyên; kim ngạch thương mại song phương năm 2024 tăng 165% so với năm 2023, hoàn thành trước thời hạn mục tiêu đạt 500 triệu USD năm 2025; hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng - an ninh, thủy sản, dầu khí, giáo dục,... có nhiều kết quả tích cực.
Trao đổi về định hướng hợp tác trong thời gian tới, Lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường tin cậy chính trị; thúc đẩy và tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại - đầu tư, tăng cường kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp trao đổi thông tin và tìm kiếm đối tác; khai thác hiệu quả tiềm năng hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực khác như nông nghiệp, thủy sản, Halal, văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân...
Nhân dịp này, Lãnh đạo hai nước thông qua Tuyên bố chung Việt Nam - Brunei Darussalam, khẳng định cam kết tăng cường hơn nữa hợp tác trên tất cả các lĩnh vực.
6. Một số vấn đề về tăng trưởng kinh tế và thương mại thế giới
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Theo Báo cáo Thương mại và Phát triển năm 2025 của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) công bố ngày 02/12/2025, tăng trưởng kinh tế thế giới và triển vọng thương mại đang chịu áp lực lớn từ biến động tài chính và bất ổn địa chính trị, trong đó các nền kinh tế đang phát triển là nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề hơn cả. Kinh tế toàn cầu được dự báo tăng trưởng chậm lại, khoảng 2,6% trong năm 2025, so với mức 2,9% của năm 2024.
Theo UNCTAD, thương mại toàn cầu tăng khoảng 4% trong giai đoạn đầu năm 2025, một phần do doanh nghiệp đẩy nhanh nhập khẩu trước các thay đổi thuế quan. Ngoài ra, thương mại dịch vụ tăng nhanh nhờ tác động tích cực từ kinh tế số và trí tuệ nhân tạo, trong khi thương mại Nam - Nam duy trì mức tăng cao hơn trung bình. Mức tăng trưởng thương mại cơ bản được ước tính chỉ ở khoảng 2,5-3% và có xu hướng giảm khi điều kiện tài chính ngày càng chi phối quyết định sản xuất và đầu tư.
Hơn 90% giao dịch thương mại toàn cầu hiện nay phụ thuộc vào tài chính ngân hàng. Thanh khoản USD và các hệ thống thanh toán xuyên biên giới giữ vai trò thiết yếu, khiến thương mại toàn cầu dễ bị tác động bởi thay đổi trong lãi suất hoặc tâm lý nhà đầu tư tại các trung tâm tài chính lớn. Đối với các nước đang phát triển, nơi khả năng tiếp cận tín dụng giá rẻ còn hạn chế, áp lực tài chính có thể làm gián đoạn những giao dịch thương mại vốn khả thi.
UNCTAD cũng chỉ ra sự gia tăng ảnh hưởng của yếu tố tài chính trên thị trường hàng hóa, đặc biệt là đối với nông sản và lương thực thiết yếu. Tại một số tập đoàn lớn, hơn 75% thu nhập hiện đến từ các hoạt động tài chính, thay vì từ vận chuyển hay lưu thông hàng hóa.
UNCTAD dự báo các nền kinh tế đang phát triển đạt mức tăng trưởng khoảng 4,3% trong năm 2025, cao hơn các nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, các quốc gia này phải đối mặt với chi phí vay vốn cao, rủi ro đảo chiều dòng vốn và tác động tài chính ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu.
Hiện nay, khối Nam bán cầu chiếm hơn 40% sản lượng toàn cầu, gần một nửa thương mại hàng hóa và hơn 50% dòng vốn đầu tư. Tuy vậy, nếu không tính Trung Quốc, các nền kinh tế đang phát triển chỉ chiếm khoảng 12% giá trị thị trường cổ phiếu và 6% lượng trái phiếu phát hành toàn cầu. Do thị trường tài chính nội địa còn hạn chế, nhiều quốc gia phải vay nợ bên ngoài với lãi suất 7 - 11%, trong khi các nền kinh tế phát triển chỉ chịu mức 1 - 4%.
UNCTAD nhận định chi phí vay vốn cao phản ánh những bất cập của hệ thống tài chính quốc tế hơn là yếu tố nội tại của từng quốc gia, qua đó làm thu hẹp không gian đầu tư dài hạn. Rủi ro khí hậu tiếp tục tác động đến tình hình trên, khi các quốc gia thường xuyên chịu thiên tai phải trả thêm khoảng 20 tỷ USD tiền lãi mỗi năm. Từ năm 2006 đến nay, nhóm nước dễ tổn thương khí hậu đã phải gánh thêm khoảng 212 tỷ USD chi phí vay.
Mặc dù nhiều quốc gia đã đa dạng hóa dự trữ ngoại hối, USD vẫn giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tài chính quốc tế. Tỷ trọng thanh toán bằng USD qua hệ thống SWIFT tăng từ 39% lên gần 50% trong vòng 5 năm qua. Hoa Kỳ hiện chiếm khoảng một nửa giá trị thị trường cổ phiếu toàn cầu và khoảng 40% lượng trái phiếu phát hành, qua đó góp phần tạo ổn định nhưng đồng thời làm gia tăng sự phụ thuộc của các nền kinh tế đang phát triển vào chu kỳ tài chính mà họ ít có khả năng tác động.
Từ thực tiễn trên, UNCTAD đề xuất một số giải pháp nhằm giảm rủi ro tài chính, tăng tính dự báo và gắn kết tốt hơn giữa thương mại, tài chính và phát triển. Các khuyến nghị tập trung vào khôi phục hiệu lực của cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại đa phương; cập nhật các quy tắc thương mại phù hợp với dịch vụ, kinh tế số, hành động khí hậu và các chiến lược công nghiệp mới; thu hẹp khoảng trống dữ liệu về thương mại và đầu tư; cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế nhằm giảm các biến động gây hại. Đồng thời, UNCTAD nhấn mạnh việc tăng cường thị trường vốn trong nước và khu vực, minh bạch hóa giao dịch hàng hóa và mở rộng tiếp cận tài chính thương mại cho doanh nghiệp nhỏ, coi đây là điều kiện cần thiết để gắn kết thương mại, tài chính và phát triển bền vững trong trung hạn.
III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT
1. Chỉ thị của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư vừa ký ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 22/12/2025 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026.
Để chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ Nhân dân vui Xuân, đón Tết cổ truyền Bính Ngọ năm 2026 an toàn, lành mạnh, tiết kiệm, tạo khí thế phấn khởi và động lực cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng ngay từ những tháng đầu năm 2026, Ban Bí thư yêu cầu cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
(1) Tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, phát huy truyền thống "tương thân, tương ái", tổ chức tốt việc chăm lo đời sống cho Nhân dân. Tập trung khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, khẩn trương hoàn thành sửa chữa, xây mới nhà cửa, công trình công cộng thiết yếu bị hư hại, bảo đảm Nhân dân có nơi ở, sinh hoạt an toàn, ổn định để đón Tết. Đẩy nhanh triển khai các dự án, hoàn thành các chỉ tiêu nhà ở xã hội được giao; tiếp tục rà soát, sửa chữa, làm mới, không để trên địa bàn còn nhà tạm, nhà dột nát. Hỗ trợ, tạo điều kiện, huy động các nguồn lực giúp đỡ, chăm lo cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế, gia đình chính sách, công nhân, người lao động mất việc làm, người cao tuổi neo đơn, trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng bị thiên tai, nơi biên giới, hải đảo,... bảo đảm mọi nhà, mọi người dân đều được vui Xuân, đón Tết.
Các cơ quan, địa phương, đơn vị chuẩn bị tốt điều kiện bảo đảm chi trả kịp thời lương, thưởng Tết cho người lao động. Tổ chức tốt việc thăm hỏi, động viên, chúc Tết cán bộ lão thành cách mạng, mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, gia đình chính sách, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo tiêu biểu, các đơn vị lực lượng vũ trang, lực lượng thường trực làm nhiệm vụ trong dịp Tết ở biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, những nơi đặc biệt khó khăn, địa bàn phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
(2) Tổ chức và quản lý các hoạt động văn hoá, kỷ niệm ngày truyền thống, tổng kết năm, gặp mặt đầu năm, Tết trồng cây, lễ hội, vui Xuân bảo đảm thiết thực, văn minh, tiết kiệm, tránh hình thức, lãng phí, phù hợp với nếp sống văn hoá, truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc. Tổ chức các không gian văn hoá tại địa phương, nhất là tại nông thôn, miền núi, hải đảo, tạo điều kiện để người dân tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hoá. Các địa phương căn cứ điều kiện, tình hình thực tiễn để quyết định việc tổ chức bắn pháo hoa chào mừng năm mới, tạo không khí đoàn kết, vui tươi, phấn khởi trong Nhân dân nhưng cần bảo đảm tiết kiệm, tuyệt đối an toàn.
(3) Triển khai đồng bộ, hiệu quả các phương án bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an toàn trên không gian mạng. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, các sự kiện chính trị, đối ngoại, văn hoá, xã hội. Tăng cường phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm minh, kịp thời các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.
Tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ thị trường, bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hoá, dịch vụ và ổn định giá cả. Bảo đảm an toàn thực phẩm, không khí, nguồn nước sinh hoạt. Thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh, chỉnh trang đô thị, các tuyến phố, đường làng, ngõ xóm, khu dân cư... Chủ động bảo đảm điều kiện, phương tiện vận chuyển người, hàng hoá để phục vụ Nhân dân và đồng bào ở nước ngoài về quê, khách quốc tế đến Việt Nam. Đẩy mạnh giao thương, giao lưu nhân dân các xã biên giới đất liền trong dịp Tết cổ truyền của Việt Nam. Tăng cường hướng dẫn, tuần tra, kiểm soát, chủ động rà soát, bổ sung, hoàn thiện các phương án, điều kiện bảo đảm về trật tự, an toàn giao thông, về phòng, chống cháy, nổ, dịch bệnh, tai nạn, thương tích... nhất là tại các khu vực dân cư, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Thực hiện nghiêm các quy định về quản lý, sử dụng pháo, kiên quyết không để xảy ra tình trạng sản xuất, buôn bán, sử dụng trái phép gây mất an ninh, an toàn trong dịp Tết.
(4) Thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương; phòng, chống lãng phí, tiêu cực. Cán bộ lãnh đạo, đảng viên thực hiện nghiêm quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng, những điều đảng viên không được làm; trách nhiệm nêu gương trong thực hiện nếp sống văn minh, nhất là quy định về không điều khiển phương tiện giao thông khi đã sử dụng rượu, bia; không tham gia, cổ xuý cho các hoạt động mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội; không sử dụng ngân sách nhà nước, phương tiện, tài sản công trái quy định cho hoạt động lễ hội, vui chơi... Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong dịp Tết, nhất là về lãng phí, tiêu cực. Không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; nghiêm cấm việc dùng công quỹ biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp với mọi hình thức.
(5) Tổ chức triển khai nghiêm túc, hiệu quả công việc, không để ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội hoàn thành việc tổng kết công tác năm, bình xét, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên năm 2025 trong tháng 12/2025, gửi báo cáo trước ngày 01/02/2026. Trong thời gian nghỉ Tết, bố trí đủ lực lượng, phương tiện trực, xử lý, giải quyết công việc kịp thời, thông suốt; thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo; không để ách tắc, chậm trễ thủ tục hành chính của người dân và doanh nghiệp.
Ngay sau kỳ nghỉ Tết, toàn hệ thống chính trị tiếp tục tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026. Thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; về phát triển kinh tế tư nhân; về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân. Tăng tốc, bứt phá thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2026 và cả nhiệm kỳ Đại hội XIV.
(6) Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các cơ quan liên quan chỉ đạo, hướng dẫn, tăng cường tuyên truyền các hoạt động mừng Xuân mới, mừng Đất nước đổi mới, mừng Đảng quang vinh; về cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín đất nước; những thành tựu nổi bật của đất nước sau 40 năm đổi mới; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đẩy mạnh bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp, giàu bản sắc; cổ vũ các phong trào văn hoá mới, lối sống văn minh, tiết kiệm; giới thiệu, quảng bá và nhân rộng các mô hình nông thôn mới, đô thị văn minh, hiện đại, giàu bản sắc. Chủ động định hướng thông tin, dẫn dắt dư luận tích cực; đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, xuyên tạc; làm thất bại mọi âm mưu phá hoại, gây chia rẽ của các thế lực thù địch.
2. Nghị định số 292/2025/NĐ-CP, ngày 06/11/2025 của Chính phủ quy định về đối tượng được miễn thuế, hạng đất tính thuế, thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Nghị định gồm 05 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
- Đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 1, Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 28/2016/QH14 ngày 11/11/2016 của Quốc hội), cụ thể:
(1) Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm theo quy định của pháp luật về đất đai; diện tích đất làm muối;
(2) Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ nghèo. Việc xác định hộ nghèo được căn cứ vào chuẩn hộ nghèo ban hành theo Nghị định của Chính phủ. Trường hợp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quy định cụ thể chuẩn hộ nghèo theo quy định của pháp luật áp dụng tại địa phương thì căn cứ chuẩn hộ nghèo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định để xác định hộ nghèo.
(3) Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho các đối tượng: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp); Hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh và hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận đất giao khoán ổn định của công ty nông, lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật; Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã.
(4) Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp.
Đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp thì thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai; trong thời gian Nhà nước chưa thu hồi đất thì phải nộp 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp.
(5) Thủ tục, hồ sơ kê khai, miễn thuế tại Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
- Hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở hạng đất được xác định theo quy định tại Quyết định số 326/TTg ngày 18/5/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê chuẩn hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và Quyết định phê duyệt điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp của Thủ tướng Chính phủ (nếu có).
- Thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2030.
3. Người dân trên địa bàn Thành phố được hỗ trợ thêm mức đóng khi tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện và Bảo hiểm y tế hộ gia đình giai đoạn 2026-2030
Trình duyệt không hỗ trợ thẻ.
Thực hiện Nghị định số 159/2025/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) hướng dẫn chi tiết về bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện; Nghị định số 188/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/8/2025) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT); đồng thời căn cứ Nghị quyết số 56/2025/NQ-HĐND và Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng, các chính sách hỗ trợ người dân tham gia BHXH tự nguyện và BHYT trên địa bàn thành phố tiếp tục được nâng lên ở mức cao, tạo điều kiện thuận lợi để Nhân dân tham gia và thụ hưởng đầy đủ các quyền lợi an sinh xã hội.
* Hỗ trợ ở mức cao nhất khi tham gia BHXH tự nguyện theo quy định hiện hành, người tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Hải Phòng được hưởng đồng thời mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và ngân sách thành phố. Tổng mức hỗ trợ cao nhất mà người dân được hưởng cụ thể như sau:
- Hộ nghèo và người thường trú tại các đặc khu Cát Hải, Bạch Long Vỹ: Tổng mức hỗ trợ lên tới 80% mức đóng BHXH tự nguyện, người dân chỉ phải tự đóng 20% mức đóng theo quy định.
- Hộ cận nghèo: Tổng mức hỗ trợ 65% mức đóng BHXH tự nguyện, người dân chỉ phải tự đóng 35%.
- Người dân tộc thiểu số: Tổng mức hỗ trợ 50% mức đóng BHXH tự nguyện, người dân chỉ phải tự đóng 50%.
- Các nhóm đối tượng khác: Tổng mức hỗ trợ 30% mức đóng BHXH tự nguyện, người dân chỉ phải tự đóng 70%.
Khi tham gia BHXH tự nguyện đủ thời gian theo quy định, người dân được hưởng lương hưu hằng tháng và được cấp thẻ BHYT miễn phí suốt đời.
* Cùng với BHXH tự nguyện, chính sách hỗ trợ BHYT tiếp tục được mở rộng, giúp người dân giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh. Theo Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND, người tham gia BHYT được hỗ trợ ở mức cao, cụ thể:
- Hỗ trợ 100% mức đóng BHYT đối với: Người từ đủ 60 đến 74 tuổi không có lương hưu, trợ cấp; Đảng viên được tặng Huy hiệu từ 40 năm tuổi Đảng trở lên chưa hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp xã hội; Hội viên Hội Người mù và một số nhóm đối tượng đặc thù khác theo quy định; Người nhiễm HIV/AIDS.
- Hỗ trợ 70% mức đóng BHYT đối với người thuộc hộ cận nghèo và người thu gom rác tại các tổ thu gom rác thải ở thôn, khu dân cư.
- Hỗ trợ 50% mức đóng BHYT đối với người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có mức sống trung bình.
Trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều nhóm đối tượng thì chỉ được hưởng mức hỗ trợ cao nhất.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy