Thông tin, tư liệu phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 12 năm 2025

I. TIN THÀNH PHỐ

1. Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về “Xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố không ma túy”

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố vừa ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 08/11/2025 về “Xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố không ma túy”.

Nghị quyết được ban hành nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành và sự tham gia của toàn dân nhằm tiếp tục kiềm chế, chặn đứng, đẩy lùi tội phạm và tệ nạn ma túy. Tổ chức phòng ngừa, phát hiện từ sớm, từ xa, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả nguồn ma túy thẩm lậu vào địa bàn thành phố dưới mọi hình thức; quyết tâm không để Hải Phòng trở thành địa bàn sản xuất, trung chuyển ma tuý. Tập trung xây dựng địa bàn xã, phường, đặc khu thực sự là “pháo đài” trong công tác phòng, chống ma túy; kiên quyết không để hình thành các điểm tổ chức, chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy, đối tượng mua, bán trái phép chất ma túy tại địa bàn cơ sở. Bảo đảm cơ sở vật chất, nhân lực; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cai nghiện, điều trị nghiện ma túy; từng bước làm giảm bền vững số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma tuý… góp phần làm giảm tội phạm và vi phạm pháp luật, tạo môi trường, địa bàn lành mạnh, an toàn, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ cuộc sống hạnh phúc, bình yên, bảo vệ sức khỏe, nòi giống và củng cố niềm tin của Nhân dân; hướng tới hoàn thành mục tiêu “Xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố không ma tuý”.

Nghị quyết đề ra những mục tiêu cụ thể, theo đó trong giai đoạn 1 đến hết năm 2027 đặt ra mục tiêu: Đến hết năm 2025, triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng thành công 30% xã, phường, đặc khu trở thành địa bàn không ma túy; không để phát sinh người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy; đến hết năm 2027, giữ vững số xã, phường, đặc khu đã xây dựng thành công địa bàn không ma túy; xây dựng thành công 15% xã, phường tiếp theo trở thành địa bàn không ma túy. Giai đoạn 2 từ năm 2028 đến năm 2030: Tiếp tục triển khai các giải pháp “giữ vững” đối với các địa bàn cấp xã đã được công nhận không ma túy trong giai đoạn trước. Không để phát sinh người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy; xây dựng thành công 15% xã, phường tiếp theo trở thành địa bàn không ma túy. Giai đoạn 3 từ năm 2031 đến năm 2035: Tiếp tục triển khai các giải pháp “giữ vững” đối với các địa bàn cấp xã đã được công nhận không ma túy; xây dựng thành công 40% xã, phường còn lại trở thành địa bàn không ma túy.

Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trước hết là tăng cường vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc, nhất là người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Các cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống ma túy; hằng năm phải có chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo; định kỳ hằng tháng, hằng quý hoặc đột xuất kiểm tra tiến độ thực hiện. Đưa nội dung công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy vào chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm. 

Tăng cường thực hiện chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp. Cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, đặc biệt là ở cấp cơ sở xã, phường, đặc khu, lấy hiệu quả của việc thực hiện mục tiêu trên địa bàn được giao phụ trách là một chỉ tiêu đánh giá, xếp loại cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Xác định mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên của các tổ chức chính trị - xã hội phải thực sự tiên phong, gương mẫu trong phòng, chống ma túy nói chung và chung tay thực hiện mục tiêu “Xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố không ma túy”.

Tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức, cảnh báo toàn xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên về hiểm họa ma túy; vận động Nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tiếp tục xây dựng, duy trì và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến về phòng, chống ma túy tại địa bàn cơ sở. Từng cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, trường học... phải cam kết không để phát sinh người nghiện ma tuý và người đứng đầu phải chịu trách nhiệm nếu phát sinh; có văn bản cụ thể quy định gắn trách nhiệm của cán bộ, công chức trong quản lý con em tránh xa ma tuý.

Bên cạnh đó cần phát huy vai trò nòng cốt của các cơ quan chuyên trách. Nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện; quản lý, giáo dục người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy, người sau cai nghiện. Tăng cường các nguồn lực cho công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý, cai nghiện và điều trị nghiện ma tuý. Đẩy mạnh ứng dụng sáng tạo, có hiệu quả khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại nhất là công nghệ thông tin, công nghệ số vào công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Tăng cường trách nhiệm của gia đình, nhà trường và cả xã hội trong việc ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả…

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố giao các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến hành quán triệt, triển khai Nghị quyết; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, thiết thực, phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tiễn của từng ngành, địa phương, đơn vị và theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Định kỳ, kiểm tra, giám sát và sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định.

2. Hội nghị gặp gỡ, đối thoại của Thường trực Thành uỷ với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố

Sáng ngày 19/11/2025, Ban Thường vụ Thành ủy tổ chức Hội nghị gặp gỡ, đối thoại của Thường trực Thành ủy với hơn 800 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Giáo dục và Đào tạo. Đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí: Đỗ Mạnh Hiến, Phó bí thư Thường trực Thành uỷ; Lê Ngọc Châu, Phó bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND thành phố; Lê Văn Hiệu, Phó bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND thành phố; cùng dự có các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ; lãnh đạo HĐND, UBND, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố; lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị, địa phương.

Phát biểu khai mạc, đồng chí Lê Ngọc Châu, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố gửi lời chúc mừng đội ngũ nhà giáo; ghi nhận và biểu dương những đóng góp quan trọng của ngành Giáo dục và Đào tạo trong thời gian qua. Thành phố luôn xác định giáo dục là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu, với nhiều nghị quyết chuyên đề, cơ chế, chính sách và nguồn lực lớn được tập trung đầu tư.

Tại hội nghị, các đại biểu đại diện hơn 72.000 cán bộ, giáo viên, nhân viên toàn ngành Giáo dục và Đào tạo nêu ý kiến, kiến nghị liên quan 5 nhóm lĩnh vực: cơ chế, chính sách và xã hội hóa giáo dục; chế độ với đội ngũ; chất lượng và phương pháp giáo dục; chuyển đổi số; quản lý nhà nước và môi trường giáo dục. Lãnh đạo thành phố cùng các sở, ngành trực tiếp giải đáp đầy đủ, rõ ràng những nội dung được nêu.

Kết luận hội nghị, đồng chí Lê Tiến Châu đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn của các đại biểu; khẳng định các nội dung trả lời tại hội nghị là cam kết chính trị của thành phố trong quá trình thực hiện. Những vấn đề vượt thẩm quyền sẽ được tổng hợp, kiến nghị Trung ương xem xét. Văn phòng Thành ủy được giao theo dõi, đôn đốc và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện.

Đồng chí Bí thư Thành ủy đề nghị ngành Giáo dục và Đào tạo tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm: nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; phát triển giáo dục mũi nhọn và trường chất lượng cao; tăng cường liên kết, hội nhập quốc tế; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng AI; hoàn thiện đề án đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm không trường học nào thiếu không gian thể thao. Ngành tiếp tục đổi mới tư duy giáo dục, coi sự tiến bộ của người học là thước đo; kiên quyết khắc phục bệnh thành tích; tăng cường kỷ cương, trách nhiệm người đứng đầu; hoàn thiện chính sách thu hút, bồi dưỡng đội ngũ.

Đồng chí Bí thư Thành uỷ Lê Tiến Châu tin tưởng ngành Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, với truyền thống tốt đẹp cùng đội ngũ tâm huyết, sẽ tiếp tục đạt nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của thành phố. Nhân dịp kỷ niệm 43 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, đồng chí Lê Tiến Châu chúc các thầy cô giữ vững đam mê, nhiệt huyết với sự nghiệp “trồng người”, tiếp tục gặt hái thành công, đào tạo những thế hệ học sinh, sinh viên ưu tú, góp phần làm rạng danh quê hương, đất nước và đưa sự nghiệp giáo dục, đào tạo của thành phố Hải Phòng ngày càng phát triển.

3. Hội đồng nhân dân thành phố quy định mức học phí trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm học 2025 – 2026

Ngày 13/11/2025, tại Kỳ họp thứ 31, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 28/2025/NQ-HĐND quy định mức học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập và mức hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục trên địa bàn thành phố từ năm học 2025–2026.

Trước khi thực hiện việc sắp xếp lại đơn vị hành chính, Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng và Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương đã ban hành các Nghị quyết quy định mức thu học phí đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập trên địa bàn thành phố: Nghị quyết số 02/2024/NQHĐND ngày 19/7/2024 của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng quy định mức thu học phí đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm học 2024-2025; Nghị quyết số 17/2024/NQ HĐND ngày 18/10/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương quy định mức thu học phí và danh mục các khoản thu, mức thu, cơ chế quản lý thu, chi đối với các dịch vụ hỗ trợ hoạt động giáo dục tại cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Sau khi sáp nhập, qua rà soát, đối chiếu 02 Nghị quyết có mức thu, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, hiệu lực thi hành khác nhau. Mặt khác, ngày 03/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 238/2025/NĐ-CP quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo thay thế Nghị định số 81/2021/NĐ CP ngày 27/8/2021 và Nghị định số 97/2023/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 của Chính phủ. Do vậy, để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với quy định hiện hành, bảo đảm tính thống nhất trong triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố, việc ban hành Nghị quyết quy định mức học phí đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm học 2025-2026 là cần thiết và theo đúng quy định.

Nghị quyết này quy định mức học phí, mức cấp bù tiền miễn học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục công lập thực hiện chương trình giáo dục phổ thông chưa tự đảm bảo chi thường xuyên trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm học 2025 - 2026. Đồng thời quy định mức hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm học 2025 - 2026.

Đối tượng áp dụng gồm trẻ em mầm non, học sinh, người học chương trình giáo dục phổ thông trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố Hải Phòng; cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và các cơ sở giáo dục công lập thực hiện chương trình giáo dục phổ thông chưa tự đảm bảo chi thường xuyên trên địa bàn thành phố Hải Phòng; các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan.

Đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và các cơ sở giáo dục công lập thực hiện chương trình giáo dục phổ thông chưa tự đảm bảo chi thường xuyên, Nghị quyết quy định cụ thể mức học phí đối với các cấp học từ mầm non đến trung học phổ thông tại khu vực thành thị và khu vực nông thôn làm cơ sở để thực hiện các chính sách miễn, cấp bù học phí. Mức học phí theo hình thức học trực tuyến bằng 100% mức học phí của các cơ sở giáo dục công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên theo quy định.

Đối với các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục, mức hỗ trợ được xác định bằng 100% mức học phí được quy định như cơ sở giáo dục công lập. Trường hợp mức hỗ trợ cao hơn mức học phí của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục, thì người học được nhận hỗ trợ bằng mức thu học phí của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đang thực hiện. Thời gian hỗ trợ theo thời gian học thực tế và không vượt quá 09 tháng/năm học.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, thay thế hai nghị quyết học phí trước đây của Hải Phòng và Hải Dương. Trong 4 tháng đầu năm học 2025–2026, các địa bàn tiếp tục áp dụng mức thu theo nghị quyết cũ tương ứng.

4. Hướng dẫn Tuyên truyền kết quả Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy vừa ban hành Hướng dẫn số 07-HD/BTGDVTU, ngày 12/11/2025 về tuyên truyền kết quả Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Thông qua các hoạt động tuyên truyền nhằm khẳng định sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tận dụng thời cơ, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và các mục tiêu nhiệm kỳ Đại hội XIII; tổ chức các phong trào thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội XIV của Đảng và hoàn thành công tác chuẩn bị để tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) diễn ra trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII, chuẩn bị cho Đại hội XIV, thể hiện trách nhiệm chính trị cao của Trung ương trong việc chuẩn bị nhân sự, văn kiện, định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới, là dấu mốc quan trọng, kết tinh trí tuệ, ý chí, khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Công tác tuyên truyền cần nêu bật hai nhóm nội dung trọng tâm đã được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) thảo luận, cho ý kiến sâu sắc, toàn diện và thống nhất cao; khẳng định đây là những nội dung có ý nghĩa chiến lược, thể hiện tầm nhìn phát triển để đưa ra những quyết sách quan trọng, không chỉ trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách mà còn đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong những năm tiếp theo. Nhóm vấn đề thứ nhất về công tác Đại hội lần thứ XIV của Đảng bao gồm công tác chuẩn bị, lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV của Đảng; về dự thảo Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV; về dự thảo Báo cáo tổng kết thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIII và Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; về dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV; về Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký, Ban Thẩm tra tư cách đại biểu Đại hội XIV. Nhóm vấn đề thứ hai về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị gồm tổng kết Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và về công tác cán bộ.

Bên cạnh đó, tuyên truyền kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và các nghị quyết Trung ương đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa - xã hội; những bài học kinh nghiệm của nhiệm kỳ XIII; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển bền vững. Tuyên truyền thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước; phổ biến các bài học kinh nghiệm được tổng kết từ thực tiễn; biểu dương những tập thể, cá nhân tiêu biểu góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội XIII; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch…

Hình thức tuyên truyền cần được triển khai đa dạng, phong phú như tổ chức quán triệt đến các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị; tuyên truyền trên báo chí, cổng/trang thông tin điện tử, trên nền tảng số, internet, mạng xã hội, hội nghị nội bộ cấp ủy, hội nghị cấp ủy mở rộng, hội nghị báo cáo viên, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, tuyên truyền cổ động trực quan…

Các đảng ủy trực thuộc Thành ủy chỉ đạo tổ chức quán triệt, tuyên truyền; chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân về chuẩn bị tổ chức Đại hội XIV của Đảng; chỉ đạo nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, phối hợp ngăn chặn, xử lý các hành vi đăng tải, phát tán thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc kết quả Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI

1. Một số kết quả nổi bật của Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII diễn ta từ ngày 05 - 06/11/2025, tại Thủ đô Hà Nội. Sau hai ngày làm việc, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định nhiều nội dung quan trọng, trong đó có một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất: Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận dân chủ, kỹ lưỡng với sự nhất trí cao nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị và Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV tiếp tục xem xét bổ sung, hoàn thiện các phương án nhân sự theo đúng phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và quy trình công tác nhân sự đã đề ra để báo cáo Ban Chấp hành Trung ương xem xét quyết định tại Hội nghị Trung ương 15 sắp tới.

Trung ương thống nhất cao với các nội dung dự kiến Chương trình Đại hội, quy chế làm việc, quy chế bầu cử tại Đại hội và báo cáo về tình hình công tác chuẩn bị Đại hội XIV. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn thiện các dự thảo để trình Đại hội XIV xem xét quyết định.

Thứ hai: Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét, cho ý kiến về báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; báo cáo tình hình thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII; Báo cáo tổng kết thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; Báo cáo những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 13 đến Hội nghị Trung ương 14. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Trung ương, tiếp tục hoàn chỉnh các báo cáo tổng kết và bàn giao cho Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc của khóa tới.

Thứ ba: Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị chỉ đạo Tiểu ban văn kiện và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức chính trị và nhân dân để hoàn thiện thêm một bước Dự thảo các văn kiện. Khẩn trương, nghiêm túc tổng hợp tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp để hoàn thiện các Dự thảo văn kiện trình Hội nghị Trung ương 15 xem xét hoàn chỉnh để trình Đại hội XIV của Đảng.

Thứ tư: Hội nghị Trung ương lần thứ 14 nhất trí cao với kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII.

Thứ năm: Điểm sáng nhất, đột phá nhất trong triển khai thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW là tổ chức thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tổ chức lại địa giới hành chính cấp Tỉnh và cấp Xã, tạo không gian, tiềm năng và cơ hội phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Mô hình chính quyền 2 cấp đã vận hành được 4 tháng, kết quả ban đầu là khả quan, tăng tính kiến tạo, tăng hiệu lực, hiệu quả phục vụ nhân dân và phát triển kinh tế xã hội; quần chúng nhân dân ủng hộ và tin tưởng, người dân và doanh nghiệp bước đầu thấy được cơ hội, quyền lợi và nghĩa vụ công dân đến với mình thực chất hơn; nhịp sống xã hội rộn ràng, tươi vui hơn. Để phát huy những yếu tố tích cực đó, tôi đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, đặc biệt là các đồng chí Ủy viên Trung ương cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ hỗ trợ, tạo điều kiện để mô hình chính quyền 3 cấp, đặc biệt quan tâm tới 2 cấp chính quyền địa phương, hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả, vươn tới những mục tiêu mà Đảng đã đặt ra, trong đó 3 mục tiêu trọng yếu là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 14, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu trong thời gian tới, cần tập trung xử lý những trọng tâm sau: Cả hệ thống chính trị tiếp tục chăm lo, kiến tạo cho mô hình chính quyền địa phương hai cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phân định thẩm quyền liên thông giữa 3 cấp cho từng lĩnh vực, xóa chồng lấn, không bỏ trống nhiệm vụ. Phân cấp đi kèm kiểm soát, chuyển mạnh sang hậu kiểm, tổ chức kiểm toán nội bộ ở tỉnh/xã. Tài chính công được phân bổ theo kết quả, theo đặc điểm riêng của địa phương. Sớm xác định vị trí việc làm, khoán sản phẩm, đào tạo bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ, quản trị dữ liệu. Tổ chức một cửa liên thông số, xóa cơ chế “xin - cho”, tăng trách nhiệm người đứng đầu. Xây dựng dữ liệu dùng chung, kết nối dân cư - đất đai- an sinh - doanh nghiệp, cập nhật thời gian thực từ cơ sở tới Trung ương.

Tổng Bí thư lưu ý, nguyên tắc xuyên suốt là “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” và “rõ người - rõ việc - rõ thời hạn - rõ nguồn lực - rõ trách nhiệm”, “Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng”, “Vì nhân dân phục vụ”, “Kết quả, sản phẩm công việc là thước đo cao nhất trình độ và phẩm chất cán bộ”.

Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng hãy nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trước đất nước và nhân dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt những công việc của đơn vị, địa phương mình, đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu được nêu ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết của cấp ủy các cấp; khẩn trương tổ chức thực hiện các kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 14 để góp phần cho thành công của Đại hội XIV của Đảng,…

2. Công tác đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương và nhiệm vụ thời gian tới

Ngày 31/10/2025, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 201- KL/TW về tình hình, kết quả công tác đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2025 - 2030 và một số nhiệm vụ thời gian tới. Bộ Chính trị, Ban Bí thư yêu cầu triển khai một số nhiệm vụ sau:

Các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương triển khai ngay các công việc sau đại hội và chuẩn bị thật tốt cho Đại hội XIV của Đảng, tập trung vào các nhiệm vụ sau: Khẩn trương hoàn thiện và ban hành ngay các quy chế làm việc, chương trình làm việc toàn khóa, chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội; kiện toàn, phân công các đồng chí ủy viên ban chấp hành, ban thường vụ, phó bí thư, bí thư và kiện toàn các chức danh lãnh đạo hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, sở, ngành theo phương án nhân sự, bảo đảm dân chủ, khách quan, đúng quy trình, tạo sự đồng thuận và phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua, tạo khí thế mới, niềm tin mới trong tổ chức hành động; đồng thời quán triệt, triển khai đến cấp cơ sở, đưa ngay nghị quyết đại hội vào cuộc sống, trước mắt tập trung thực hiện đạt và vượt mức các nhiệm vụ năm 2025 đã đề ra.

Hoàn thiện đồng bộ thể chế liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị để phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính bảo đảm hiệu quả, phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp. Triển khai thực hiện nghiêm các quy định mới về công tác cán bộ, đặc biệt là công tác đánh giá cán bộ bảo đảm dân chủ, công khai, công tâm, khách quan theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí gắn với hiệu quả, kết quả thực hiện nhiệm vụ, thông qua sản phẩm cụ thể.

Tiếp tục triển khai chủ trương bố trí 100% các chức danh chủ tịch ủy ban nhân dân, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, chánh thanh tra tỉnh không phải là người địa phương, hoàn thành trước ngày 15/12/2025.

Tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng dư luận; bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh vô hiệu hóa các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc, xấu độc, nhất là trên không gian mạng liên quan đến công tác chuẩn bị đại hội; xử lý nghiêm các vi phạm.

Tập trung chuẩn bị tốt các công việc tổ chức Đại hội XIV của Đảng. Thường trực các Tiểu ban nghiên cứu tiếp thu ý kiến tham gia góp ý từ đại hội đảng các cấp; ý kiến đại biểu Quốc hội và các tầng lớp nhân dân, trí thức, nhà khoa học,... để hoàn thiện Dự thảo Văn kiện trình Hội nghị Trung ương 15. Tiếp tục chuẩn bị các nội dung về nhân sự và các điều kiện cần thiết để tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.

Tổ chức tốt việc tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Chuẩn bị sớm các công việc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

3. Thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 14/4 /2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 05/10/2025, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương đã phát động Đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng; tăng tốc, bứt phá hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng; ban hành Kế hoạch số 2437/QĐ-TTg, ngày 04/11/2025 với các nội dung thi đua và lộ trình thực hiện, tiêu chí khen thưởng như sau:

Để toàn dân đồng lòng, thi đua hành động, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, hướng tới Đại hội XIV của Đảng thành công, các bộ, ban, ngành, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết tắt là bộ, ngành, địa phương), tổ chức, doanh nghiệp và mọi người dân triển khai Đợt thi đua với tinh thần “quyết tâm cao, hành động quyết liệt, hiệu quả thiết thực”, tập trung thi đua thực hiện các nội dung chủ yếu sau:

Thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và Kế hoạch 5 năm (2021 - 2025) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các đề án, chương trình được Chính phủ giao theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các Nghị quyết của Quốc hội.

Thi đua thực hiện tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng bảo đảm đúng quy định.

Thi đua xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện tốt công tác cán bộ, chống chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, tăng cường phối hợp giữa các cấp chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.

Thi đua đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ về thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, phát huy mọi động lực, đột phá mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới.

Thi đua hoàn thành, hoàn thành vượt mức các công trình phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thị làm động lực phát triển vùng và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.

Đợt thi đua được triển khai từ tháng 10 năm 2025 đến khi tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Tiêu chí thi đua đối với các bộ, ban, ngành trung ương: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao; đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, tháo gỡ kịp thời dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số; lao động sáng tạo, hoàn thành đúng tiến độ hoặc vượt kế hoạch, đảm bảo chất lượng các công trình, dự án, nhất là các dự án quan trọng quốc gia, các dự án có sức ảnh hưởng, hạ tầng số, các công trình an sinh xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để tạo sự đột phá, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, bảo đảm ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, cổ vũ cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị, thi đua xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số, tăng cường phục vụ người dân và doanh nghiệp. Xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong điều hành, tổ chức thực hiện, làm tốt công tác dân vận, đối thoại với nhân dân, giải quyết hiệu quả đơn thư, khiếu nại, tố cáo.

Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội: Tổ chức sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động đến đông đảo các tầng lớp Nhân dân, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo, vận động mọi nguồn lực xã hội tạo nên sức mạnh góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hành dân chủ và phát huy quyền dân chủ của Nhân dân trong đời sống xã hội. Thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, đặc biệt là giám sát quá trình vận hành bộ máy chính quyền theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp; giám sát thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đối với các doanh nghiệp: Sản xuất kinh doanh hiệu quả, bền vững, hợp pháp. Giải quyết nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đồng hành cùng đất nước thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Có nhiều sáng chế, phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, biện pháp hợp lý hóa sản xuất, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất kinh doanh, sử dụng năng lượng hiệu quả, sản xuất xanh - sạch - tiết kiệm. Nội bộ đoàn kết. Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, tham gia tích cực các hoạt động vì cộng đồng, đóng góp tích cực trong các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động và các phong trào thi đua của bộ, ngành, địa phương:

Đối với cá nhân: Cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có sáng kiến, giải pháp sáng tạo trong việc xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện cơ chế, chính sách, quy định, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với phương châm “đổi mới tư duy, quyết tâm hành động, gương mẫu đi đầu, tận tâm cống hiến, kiến tạo phát triển, vì dân phục vụ”. Mọi người dân tiếp tục nêu cao lòng yêu nước, khát vọng cống hiến, đoàn kết một lòng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức thi đua lao động sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ môi trường, bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước.

Hình thức khen thưởng: Huân chương Lao động; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Bằng khen cấp bộ, cấp tỉnh; Giấy khen. Tiêu chuẩn khen thưởng: Căn cứ thành tích trong tổ chức, thực hiện Đợt thi đua, việc xét khen thưởng cho các tập thể, cá nhân tiêu biểu, xuất sắc được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

4. Đảng viên tiên phong trong học tập kỹ năng số

Phần II: Bồi dưỡng các kỹ năng số cho đảng viên

4.1. Nhận thức số - Kỹ năng tư duy trong môi trường số

Nhận thức số là khả năng hiểu đúng bản chất, vai trò và tác động của chuyển đổi số đối với cá nhân, tổ chức và xã hội. Người có nhận thức số biết rằng chuyển đổi số không chỉ là số hóa văn bản hay ứng dụng phần mềm, mà là sự thay đổi toàn diện phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành và phục vụ. Đảng viên có nhận thức số vững vàng sẽ từ bỏ tư duy thụ động, ngại thay đổi, hình thành tinh thần cầu thị, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.

Nhận thức số giúp cán bộ định vị đúng vai trò, lựa chọn công cụ phù hợp, tối ưu hóa thời gian, học hỏi kỹ năng mới và lan tỏa tinh thần đổi mới đến cộng đồng. Đặc biệt, đó còn là khả năng nhận diện đúng - sai, thật - giả trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nâng cao nhận thức số chính là tiền đề để hình thành văn hóa số, với tinh thần minh bạch, cởi mở, trách nhiệm và học tập suốt đời.

4.2. Kỹ năng sử dụng các công cụ số cơ bản

Kỹ năng sử dụng công cụ số cơ bản là năng lực làm chủ các thiết bị thông minh, phần mềm văn phòng, công cụ quản trị và nền tảng giao tiếp trực tuyến. Đảng viên cần biết khai thác hiệu quả điện thoại thông minh, máy tính bảng, email, mạng xã hội chính thống, phần mềm quản trị công việc, và hệ thống văn phòng điện tử.

Việc nắm vững các ứng dụng văn phòng như Google Workspace, Microsoft 365 hay các công cụ họp trực tuyến như Zoom, Google Meet, Microsoft Teams là yêu cầu tối thiểu. Biết sử dụng Zalo OA hay các nền tảng tương tác hai chiều giữa cơ quan với nhân dân cũng là một minh chứng rõ nét cho năng lực công cụ số. Đây không chỉ là thao tác kỹ thuật, mà là biểu hiện của tư duy đổi mới, thái độ cầu thị và khả năng thích ứng trong công tác Đảng

4.3. Kỹ năng làm việc, trao đổi trong môi trường số

Trong môi trường số, phương thức tổ chức công việc và trao đổi thay đổi căn bản. Cán bộ, đảng viên cần thành thạo kỹ năng quản lý thời gian và công việc trên nền tảng số, biết sử dụng ứng dụng lập kế hoạch, nhắc việc và theo dõi tiến độ.

Đồng thời, cần nắm vững kỹ năng họp trực tuyến và làm việc từ xa, biết chuẩn bị nội dung, điều hành trên nền tảng số, ghi chép điện tử, duy trì kỷ luật và cam kết tiến độ. Kỹ năng cộng tác trên nền tảng số cũng rất quan trọng, giúp phối hợp nhóm hiệu quả, phân công nhiệm vụ rõ ràng, phản biện có văn hóa và báo cáo kịp thời.

Làm việc và trao đổi trong môi trường số không còn là lựa chọn, mà là tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ trong bối cảnh hiện nay.

4.4. Kỹ năng tra cứu, khai thác và xử lý thông tin số

Thông tin là nguồn lực chiến lược trong thời đại số. Người đảng viên cần có khả năng tìm kiếm và khai thác thông tin chính thống trên các cổng điện tử của Chính phủ, Đảng, Quốc hội, bộ ngành, địa phương, cũng như các cơ sở dữ liệu quốc gia.

Cùng với đó, kỹ năng đánh giá độ tin cậy và kiểm chứng thông tin là yêu cầu cấp thiết, giúp phân biệt đúng - sai, tránh bị tác động bởi thông tin sai lệch, xuyên tạc, cắt ghép. Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc bảo mật dữ liệu cá nhân và tài liệu công vụ, sử dụng mật khẩu mạnh, nền tảng bảo mật và các quy định pháp luật hiện hành.

Đây là năng lực gắn trực tiếp với bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm của người đảng viên trong bảo vệ uy tín của tổ chức Đảng và hệ thống chính trị.

4.5. Tự học suốt đời và phát triển năng lực số cá nhân

Tự học suốt đời trong thời đại số là yêu cầu bắt buộc, không còn là lựa chọn cá nhân. Người đảng viên phải chủ động học tập trên các nền tảng học tập mở (MOOC), hệ thống quản lý học tập (LMS), Cổng học tập chuyển đổi số quốc gia, Học viện Chuyển đổi số Việt Nam và các nền tảng quốc tế uy tín.

Việc học cần gắn với nhu cầu công tác, lộ trình nghề nghiệp và yêu cầu thực tiễn, hình thành kỷ luật tự học, phân bổ thời gian hợp lý, kiên trì theo đuổi mục tiêu. Mỗi bước tiến trong năng lực số cá nhân sẽ góp phần trực tiếp vào nâng cao chất lượng công tác chung của tổ chức Đảng.

4.6. Kỹ năng an toàn - bảo mật số

Trong không gian số, an toàn và bảo mật thông tin là yêu cầu hàng đầu. Đảng viên cần nắm vững kỹ năng quản lý mật khẩu, xác thực hai yếu tố, bảo mật email công vụ, tài khoản lưu trữ, và tuyệt đối không chia sẻ dữ liệu mật trên nền tảng không chính thức.

Cùng với đó, phải rèn luyện kỹ năng nhận diện tấn công mạng, cảnh giác trước email giả mạo, tin nhắn lừa đảo, ứng dụng không rõ nguồn gốc. Đặc biệt, đảng viên phải xây dựng văn hóa mạng văn minh, có trách nhiệm, giữ gìn bản lĩnh chính trị, không phát ngôn, chia sẻ, bình luận tùy tiện gây ảnh hưởng đến uy tín tổ chức.

An toàn số không chỉ bảo vệ cá nhân mà còn bảo vệ cả hệ thống. Mỗi đảng viên chính là một mắt xích trong an ninh thông tin quốc gia, thể hiện phẩm chất trung thành, kỷ luật, bản lĩnh và tận tụy trong kỷ nguyên số.

5. Một số kết quả trong chuyến thăm chính thức Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland của Tổng Bí thư Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam

Từ ngày 28 - 30/10/2025, nhận lời mời của Thủ tướng Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland Keir Starmer, Tổng Bí thư Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland.

Chuyến thăm là một trong những hoạt động đối ngoại quan trọng của Việt Nam trong năm 2025, giúp khẳng định tầm vóc của quan hệ Việt Nam - Anh trong tổng thể chính sách đối ngoại của mỗi nước, đặc biệt trong bối cảnh thế giới đầy biến động và thách thức hiện nay.

Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư Tô Lâm và Đoàn đại biểu Việt Nam đã có nhiều hoạt động quan trọng, nổi bật là các cuộc hội đàm với Thủ tướng Anh Keir Starmer, hội kiến và dự chiêu đãi do Phó Thủ tướng Anh David Lammy chủ trì, các cuộc hội kiến với đại diện Hoàng gia Anh, Thượng viện, Hạ viện Anh, các chính đảng lớn tại Anh. Tổng Bí thư đã có bài phát biểu chính sách quan trọng tại Đại học Oxford, gặp gỡ, trao đổi với đại diện giới kinh doanh, các tập đoàn hàng đầu tại Anh, các chuyên gia, học giả về khoa học - công nghệ, gặp gỡ đại diện cộng đồng và Đại sứ quán Việt Nam tại Anh.

Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, đạt được nhiều kết quả hiệu quả, thực chất.

Trước hết, dấu ấn nổi bật của chuyến thăm là việc Việt Nam và Anh nhất trí thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, cấp quan hệ cao nhất trong hệ thống các khuôn khổ đối tác của Việt Nam. Trong Tuyên bố chung về xác lập tầm mức quan hệ mới, cũng như trong trao đổi, Tổng Bí thư Tô Lâm và các nhà lãnh đạo Anh đã thống nhất các biện pháp chiến lược, xác định các trụ cột hợp tác tương xứng với tầm mức mới của quan hệ song phương đó là: tăng cường hợp tác chính trị, ngoại giao, quốc phòng và an ninh; tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, tài chính; tăng cường hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, y tế; hợp tác về môi trường, năng lượng và chuyển đổi xanh; tăng cường hợp tác giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch, giao lưu nhân dân, các quyền bình đẳng; hợp tác trong các vấn đề quốc tế và khu vực.

Thứ hai, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hai bên đã nhất trí, ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác quan trọng, với nhiều nội dung thực chất, cụ thể, trong nhiều lĩnh vực mới, có ý nghĩa đối với sự phát triển của hai nước, nhất là về hợp tác giữa các doanh nghiệp, tập đoàn lớn, cơ sở giáo dục giữa hai nước, cũng như giữa các cơ quan, thành phố lớn của mỗi bên. Một số doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu của Việt Nam đã bắt đầu hợp tác nghiên cứu với các trường đại học và tổ chức của Anh, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao và giáo dục - đào tạo.

Thứ ba, trong trao đổi, các nhà lãnh đạo, đối tác Anh bày tỏ ấn tượng về những thành tựu to lớn của Việt Nam trên tất cả các mặt, thể hiện coi trọng vị thế và vai trò của Việt Nam tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như về nhiều vấn đề được cộng đồng quốc tế quan tâm. Bài phát biểu chính sách tại Đại học Oxford của Tổng Bí thư Tô Lâm được giới nghiên cứu chính sách Anh đặc biệt quan tâm và đánh giá cao, xem đây là một đóng góp quan trọng để làm rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam.

Bên cạnh đó, các đối tác Anh bày tỏ sẵn sàng sớm triển khai các nội dung đã được nhất trí trong Tuyên bố chung về việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Anh lên Đối tác chiến lược toàn diện như: chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, tri thức, chuyên môn trong các lĩnh vực đa dạng, từ tài chính, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, tới y tế, tài chính xanh, năng lượng sạch, giảm thiểu rủi ro thiên tai.

Thứ tư, chuyến thăm góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam tại châu Âu và tại các diễn đàn, cơ chế đa phương ở châu Âu, đồng thời đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy vai trò của ASEAN, cũng như quan hệ ASEAN - châu Âu. Qua đó, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được củng cố, tạo cơ sở để tăng cường hơn nữa quan hệ với các đối tác trong thời gian tới.

Thứ năm, chuyến thăm cũng góp phần thúc đẩy tình cảm gắn bó giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Anh, cũng như tinh thần đoàn kết, gắn bó của những người Việt Nam tại Anh, động viên cộng đồng có những đóng góp ngày càng thiết thực hơn nữa vào sự phát triển, vươn lên của đất nước, nhất là trong bối cảnh ngày càng nhiều người Việt giành nhiều thành quả trong các lĩnh vực tại Anh, tạo thêm nền tảng sâu rộng cho kết nối giữa hai nước.

Với các kết quả quan trọng trên, chuyến thăm chính thức Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland của Tổng Bí thư Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có ý nghĩa không chỉ đối với việc thúc đẩy quan hệ của Việt Nam với một nước lớn tại châu Âu và trên thế giới, mà còn tạo thêm những điều kiện, xung lực mới cho việc tranh thủ thêm những điều kiện thuận lợi cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.

6. Một số kết quả trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Quốc vương Vương quốc Hashemite Jordan Abdullah II Ibn Al Hussein

Từ ngày 12 - 13/11/2025, Quốc vương Vương quốc Hashemite Jordan Abdullah II Ibn Al Hussein thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lương Cường.

Trong chuyến thăm, Quốc vương Abdullah II Ibn Al Hussein đã hội đàm với Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; tham dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Jordan. Đại diện Lãnh đạo hai nước đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác giữa Học viện Ngoại giao Việt Nam và Học viện Ngoại giao Jordan.

Tại các cuộc hội đàm, hội kiến, tiếp xúc cấp cao, lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất hai bên cần củng cố lòng tin chính trị thông qua các hoạt động trao đổi đoàn, đặc biệt là các đoàn cấp cao; nhất trí cần triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao được ký kết trong chuyến thăm, nghiên cứu thúc đẩy sớm ký thỏa thuận thành lập các cơ chế hợp tác khác, sớm cử lãnh sự danh dự tại mỗi nước để thúc đẩy hợp tác.

Trên cơ sở nền tảng lòng tin chính trị, các nhà lãnh đạo hai nước nhất trí thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực quan trọng khác, trong đó có quốc phòng, an ninh, chia sẻ thông tin, trao đổi chuyên gia, cán bộ giữa các cơ sở quốc phòng - an ninh nhằm nâng cao hiểu biết lẫn nhau và trao đổi kinh nghiệm trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm; tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở cửa thị trường cho các mặt hàng thế mạnh của nhau, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp hai nước nghiên cứu khả năng hợp tác, đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực phát triển hạ tầng, kinh tế xanh, kinh tế số, viễn thông, sản xuất, chế biến nông sản…, thúc đẩy kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo giữa hai nước.

Quốc vương Jordan đề nghị hai nước nghiên cứu sớm mở đường bay thẳng trực tiếp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp thị thực nhập cảnh cho công dân hai bên.

Việt Nam sẵn sàng tăng cường xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh sang Jordan. Trong khi đó, Jordan sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam phát triển ngành Halal thông qua hỗ trợ chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về lĩnh vực Halal, vấn đề chứng chỉ Halal và mở cửa thị trường cho các sản phẩm Halal của Việt Nam.

Các nhà lãnh đạo cũng trao đổi các biện pháp nhằm thúc đẩy hợp tác về y tế,  giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chất bán dẫn, khẳng định đây là những lĩnh vực rất tiềm năng nhằm mở ra các cơ hội cho thế hệ trẻ hai nước.

Về hợp tác tại các diễn đàn đa phương, hai bên nhất trí cần tiếp tục tham vấn và ủng hộ các ứng cử của nhau cũng như làm cầu nối thúc đẩy hợp tác giữa Liên đoàn A-rập và ASEAN,...

Chuyến thăm Việt Nam của Quốc vương Jordan Abdullah II Ibn Al Hussein đánh dấu một cột mốc lịch sử trong quan hệ hai nước, mở ra giai đoạn hợp tác mới, tạo tiền đề cho thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm.

7. Sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì phát triển bền vững”: Đóng góp nổi bật của Việt Nam tại Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng UNESCO

Trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng chấp hành UNESCO, ngày 08/11/2025, tại thành phố Samarkand, Cộng hòa Uzbekistan, Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đồng thuận thông qua dự thảo Nghị quyết do Việt Nam đề xuất với sự đồng tác giả và ủng hộ của 71 nước.

Nghị quyết nhấn mạnh vai trò then chốt của văn hóa là nền tảng của bản sắc, nguồn lực đổi mới, trụ cột của phát triển bền vững và ứng phó với các thách thức của thời đại. Trên cơ sở đó, Nghị quyết kêu gọi Liên hợp quốc phát động Thập kỷ quốc tế nhằm tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức về vai trò của văn hóa và thúc đẩy hành động ở các cấp độ nhằm huy động nguồn lực, gia tăng đầu tư cho giáo dục di sản, giáo dục văn hóa - nghệ thuật, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo gắn với sinh kế bền vững, tăng cường tiếp cận văn hóa bình đẳng, đối thoại liên văn hóa, văn hóa số, ứng dụng tri thức văn hóa trong thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường,... hướng tới một tương lai bền vững và thịnh vượng cho mọi người dân.

Sau gần 40 năm kể từ Thập kỷ quốc tế về phát triển văn hóa 1988 - 1997, đây là lần đầu tiên UNESCO đồng thuận khởi xướng một Thập kỷ quốc tế mới gắn với văn hóa. Sáng kiến được Tổng Giám đốc UNESCO cũng như các nước thành viên đánh giá rất cao vì phù hợp với chiến lược của UNESCO và quan tâm chung hiện nay, đề cao vai trò tiên phong của UNESCO đưa văn hóa trở thành một trụ cột độc lập đóng góp vào phát triển bền vững ở từng quốc gia và trên toàn cầu, động lực duy trì hòa bình, thúc đẩy công nghiệp sáng tạo, bảo vệ đa dạng văn hóa và tăng trưởng kinh tế bao trùm, gắn kết xã hội.

Thời gian tới, Việt Nam và các nước đồng bảo trợ sẽ tiếp tục đệ trình Nghị quyết lên Đại hội đồng Liên hợp quốc xem xét và chính thức thông qua, để có thể sớm phát động Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững giai đoạn 2027 -2036, UNESCO sẽ là tổ chức chủ trì triển khai, phối hợp với các tổ chức liên quan khác trong hệ thống Liên hợp quốc và các đối tác khác.

Sáng kiến do Việt Nam khởi xướng tại UNESCO có ý nghĩa rất quan trọng: Sáng kiến là bước đi cụ thể góp phần triển khai chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về coi trọng văn hóa, ngoại giao văn hóa và hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Theo đó nhấn mạnh văn hóa là nền tảng, nguồn lực, sức mạnh nội sinh và là động lực to lớn, hệ điều tiết sự phát triển xã hội bền vững, thúc đẩy chấn hưng và phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, chú trọng đẩy mạnh và nâng tầm ngoại giao văn hóa, quốc tế hóa văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam và dân tộc hóa văn minh thế giới vào Việt Nam, đóng góp vào văn minh nhân loại.

Đây là sáng kiến đầu tiên có quy mô lớn nhất mà Việt Nam khởi xướng tại UNESCO kể từ nhiều năm tham gia Tổ chức. Nếu được Liên hợp quốc nhất trí thông qua, đây không chỉ là đóng góp có ý nghĩa chiến lược của Việt Nam đối với UNESCO, khẳng định vai trò dẫn dắt của UNESCO trong lĩnh vực văn hóa, mà còn là sáng kiến mang dấu ấn Việt Nam ở tầm toàn cầu, thể hiện nỗ lực và cam kết chung tay cùng cộng đồng quốc tế kiến tạo một tương lai hòa bình, thịnh vượng nhân văn.

Cũng tại Kỳ họp lần thứ 43 UNESCO, Việt Nam được các quốc gia thành viên tín nhiệm tái bầu làm Phó Chủ tịch Kỳ họp. Với trọng trách là Phó Chủ tịch Đại hội đồng UNESCO lần thứ 43, Việt Nam tiếp tục cùng một lúc đảm nhận vai trò tại 6 cơ chế điều hành then chốt của UNESCO: Phó Chủ tịch và là thành viên Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa, Phó Chủ tịch và là thành viên Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể; thành viên Ủy ban Di sản thế giới.

Việc Việt Nam đảm nhận vai trò Phó Chủ tịch là cơ hội để tiếp tục đóng góp một cách chủ động, tích cực và thực chất hơn vào các vấn đề quốc tế mà UNESCO đang quan tâm, cũng như thúc đẩy các chương trình, định hướng lớn của UNESCO trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, khoa học và thông tin truyền thông, đóng góp cho văn minh nhân loại, đồng thời Việt Nam có điều kiện tận dụng tri thức, các ý tưởng, sáng kiến của UNESCO triển khai các nghị quyết chiến lược, phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên giàu mạnh, thịnh vượng.

8. Trách nhiệm và thách thức toàn cầu trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại. Những năm gần đây, các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra với tần suất cao và sức tàn phá lớn, tác động sâu sắc tới mọi châu lục. Không chỉ các vùng nghèo nhất thế giới như khu vực Nam sa mạc Sahara của châu Phi hay những khu vực dễ tổn thương như Nam Á chịu ảnh hưởng nặng nề, mà ngay cả các quốc gia phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ cũng phải gánh chịu những đợt cháy rừng, bão, sóng nhiệt chưa từng có. Điều đó cho thấy chống biến đổi khí hậu không còn là vấn đề riêng của bất kỳ quốc gia nào mà đã trở thành trách nhiệm toàn cầu.

Năm 2015, Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu được thông qua tại Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21) ở Pháp, đánh dấu một bước đột phá trong nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế nhằm kiềm chế sự nóng lên toàn cầu. Hiệp định đặt mục tiêu giữ mức tăng nhiệt dưới 2°C và nỗ lực không quá 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp; đồng thời yêu cầu các nước phát triển huy động tối thiểu 100 tỷ USD mỗi năm giúp các quốc gia đang phát triển ứng phó và chuyển đổi sang năng lượng sạch. Tuy nhiên, gần 10 năm sau, tình hình khí hậu vẫn diễn biến phức tạp. Năm 2024 được xác nhận là năm nóng nhất trong lịch sử quan trắc, cũng là năm đầu tiên nhiệt độ toàn cầu tăng hơn 1,5°C so với mức trung bình thời kỳ tiền công nghiệp. Năm 2025 tiếp tục cho thấy nhiều dấu hiệu đáng lo ngại khi hàng loạt thảm họa thiên nhiên, từ cháy rừng, hạn hán, lũ lụt đến sóng nhiệt xảy ra trên diện rộng. Các cảnh báo của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) ngày 15/10/2025 càng củng cố lo ngại này: nồng độ CO₂ trong khí quyển năm 2024 tăng mạnh nhất kể từ khi đo đạc năm 1957. Mức khí methane (CH₄) và nitrous oxide (N₂O) cũng đạt mức cao kỷ lục. WMO cảnh báo lượng nhiệt bị giữ lại bởi các khí nhà kính đang đẩy nhanh tình trạng biến đổi khí hậu, đe dọa nghiêm trọng các mục tiêu của Hiệp định Paris.

Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nhấn mạnh, dù các cảnh báo ngày càng cấp bách, nhiều cam kết của một số quốc gia vẫn chưa đạt kỳ vọng. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, các nước mới chỉ có khả năng cắt giảm khoảng 10% lượng khí thải đến năm 2035, mức quá thấp so với yêu cầu của Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), vốn đề ra mức giảm 60% vào năm 2035 so với năm 2019.

Bên cạnh thách thức kiểm soát khí thải, tài chính khí hậu là một trong những vấn đề gai góc nhất. Theo thỏa thuận tại COP29 ở Baku (Azerbaijan), các nước giàu cam kết đóng góp 300 tỷ USD mỗi năm từ năm 2035. Tuy nhiên, các quốc gia đang phát triển cho rằng con số này quá thấp. Báo cáo Khoảng cách Thích ứng của Liên hợp quốc ước tính thế giới cần hơn 300 tỷ USD mỗi năm vào năm 2035 để thích ứng trước mực nước biển dâng, nắng nóng cực đoan và các tác động khác của khí hậu ấm lên - con số này gấp gần 12 lần mức chi hiện nay. Trong khi các nước đang phát triển yêu cầu nguồn lực cụ thể để thích ứng và giảm phát thải, các nền kinh tế lớn nhấn mạnh trách nhiệm chia sẻ và khả năng huy động thực tế. Bất đồng này khiến tài chính khí hậu tiếp tục là “điểm nóng” trên bàn đàm phán.

Ngày 10/11/2025, Hội nghị lần thứ 30 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP30) khai mạc tại thành phố Belem (Brazil), sau khi các quốc gia đạt đồng thuận về chương trình nghị sự. Hội nghị diễn ra trong bối cảnh hai năm liên tiếp thế giới ghi nhận nhiệt độ kỷ lục, lượng khí thải nhà kính tiếp tục tăng, trong khi tình hình địa chính trị phức tạp và bất ổn.

Phát biểu tại lễ khai mạc COP30, Tổng thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva kêu gọi biến cam kết thành hành động cụ thể, đặc biệt là tăng nguồn tài chính và giảm dần nhiên liệu hóa thạch. Ông nhấn mạnh: “Khủng hoảng khí hậu không còn là mối đe dọa của tương lai mà là thảm kịch của hiện tại”.

Chủ tịch COP30 André Corrêa do Lago hoan nghênh sự đồng thuận về chương trình nghị sự, coi đây là bước khởi đầu tích cực để "tháo nút thắt" cho các vòng thương lượng tiếp theo. Ông cho rằng việc thông qua chương trình nghị sự là phép thử chính trị quan trọng, định hình mức độ hợp tác trong các chủ đề then chốt như tài chính khí hậu, chuyển đổi năng lượng và thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu.

Liên hợp quốc cảnh báo thế giới khó có thể duy trì mục tiêu 1,5oC trong ngắn hạn, khi chính sách hiện nay có thể khiến Trái đất nóng lên tới 2,8oC. Dù các cam kết mới giúp giảm mức tăng xuống 2,3 - 2,5oC, hậu quả vẫn được dự báo nghiêm trọng.

Đáng chú ý, Mỹ không cử phái đoàn cấp cao tham dự COP30, sau khi rút khỏi Thỏa thuận Paris. Việc Mỹ, quốc gia phát thải lớn nhất trong lịch sử, vắng mặt được cho là sẽ ảnh hưởng đến tiến trình đàm phán.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng các chuyên gia cho rằng, COP30 sẽ tạo ra lộ trình hành động cụ thể cho thập kỷ tới, với các cam kết mạnh mẽ hơn về tài chính, thích ứng khí hậu và chuyển đổi năng lượng sạch. Năng lượng tái tạo, đặc biệt là Điện Mặt trời, theo thống kê nửa đầu năm 2025, đã lần đầu tiên vượt than đá để trở thành nguồn điện lớn nhất toàn cầu, một tín hiệu tích cực cho chuyển đổi năng lượng.

III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

1. Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 26/10/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ

Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm sau:

Một là. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, xây dựng văn hóa giải trình, coi trách nhiệm giải trình là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên, là thước đo bản lĩnh, đạo đức, năng lực và tinh thần dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Gắn trách nhiệm giải trình với trách nhiệm nêu gương, với tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Quy định rõ trách nhiệm giải trình là một tiêu chí để đánh giá cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên hằng năm. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các biểu hiện né tránh, đùn đẩy, giải trình không đầy đủ, không trung thực trong hoạt động công vụ.

Hai là. Hoàn thiện thể chế, pháp luật, sửa đổi pháp luật phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định rõ các nguyên tắc, đối tượng, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ giải trình, cơ chế giám sát, xử lý các sai phạm về thực hiện trách nhiệm giải trình. Hoàn thiện pháp luật về tư pháp, khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, đất đai, quy hoạch, môi trường, đầu tư, xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền yêu cầu giải trình của báo chí, người dân, doanh nghiệp. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình cụ thể cho từng ngành, lĩnh vực, gắn với mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Ba là. Nâng cao chất lượng, tạo chuyển biến rõ rệt về thực hiện trách nhiệm giải trình, gắn với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đối với các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong công tác cán bộ, xây dựng chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính, tư pháp, đất đai, môi trường, quy hoạch, xây dựng, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công,... Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy chế, quy trình, quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình về trách nhiệm giải trình; tiếp nhận và kịp thời giải thích, làm rõ các vấn đề người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức kiến nghị, phản ánh, yêu cầu giải trình; chủ động trao đổi, đối thoại trực tiếp với người dân, doanh nghiệp để giải quyết những vấn đề bức xúc ngay từ cơ sở, không để phát sinh khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp.

Bốn là. Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra việc chấp hành các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là các hành vi né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, chậm giải trình, giải trình không trung thực. Đưa nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm giải trình vào chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm của cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp.

Năm là. Phát huy và nâng cao hơn nữa vai trò giám sát của cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, báo chí về trách nhiệm giải trình cửa cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn, giải trình tại Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; hoàn thiện cơ chế bảo vệ, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để Nhân dân kiến nghị, phản ánh các vi phạm trong thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ. Tăng cường giám sát chuyên đề về trách nhiệm giải trình và việc thực hiện các kiến nghị, cam kết sau giải trình, gắn với việc trả lời kiến nghị của cử tri, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân.

Sáu là. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về trách nhiệm giải trình, bảo đảm kết nối, liên thông từ Trung ương đến cơ sở. Xây dựng Cổng thông tin điện tử chuyên biệt để phục vụ giải trình và tiếp nhận, phản hồi yêu cầu giải trình của Nhân dân, doanh nghiệp; kịp thời thông tin, giải trình về chủ trương, chính sách, quyết sách mới, về các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm.

2. Nghị định số 255/2025/NĐ-CP, ngày 29/9/2025 của Chính phủ xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030. Nghị định gồm 09 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2025. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:

Tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030: (1) Dân tộc còn gặp nhiều khó khăn là dân tộc có tỷ lệ nghèo đa chiều lớn hơn tỷ lệ nghèo đa chiều dân tộc thiểu số chung cả nước; (2) Dân tộc có khó khăn đặc thù là dân tộc có dân số trong phạm vi toàn quốc dưới 10.000 người theo dữ liệu quản lý dân cư và đáp ứng ít nhất 01 trong 02 tiêu chí sau: a) Có tỷ lệ nghèo đa chiều lớn hơn tỷ lệ nghèo đa chiều dân tộc thiểu số chung cả nước; b) Có dân số trong phạm vi toàn quốc theo dữ liệu quản lý dân cư giảm so với dân số trong phạm vi toàn quốc theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.

Quy trình xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030:

- Cấp xã: Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) tổ chức rà soát thống kê số liệu về tổng dân số, tổng số hộ, số hộ nghèo, hộ cận nghèo của từng dân tộc tại địa bàn theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định này, gửi kết quả gồm 01 hồ sơ điện tử và 01 hồ sơ giấy về Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện. Trong đó: a) Số liệu rà soát về dân số của từng dân tộc tại địa bàn được thống kê theo dữ liệu quản lý dân cư trong vòng 15 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành; b) Số liệu rà soát tổng số hộ, số hộ nghèo, hộ cận nghèo của từng dân tộc tại địa bàn được thống kê trên kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024.

- Cấp tỉnh: Sau khi nhận được đủ báo cáo rà soát của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan liên quan tổng hợp, rà soát, thẩm định và chịu trách nhiệm toàn diện về số liệu báo cáo theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị định này, gửi kết quả gồm 01 hồ sơ điện tử và 01 hồ sơ giấy về Bộ Dân tộc và Tôn giáo trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

- Cấp trung ương (Bộ Dân tộc và Tôn giáo): Trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ báo cáo về số liệu tổng dân số, tổng số hộ, số hộ nghèo, hộ cận nghèo của từng dân tộc của các tỉnh, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo căn cứ quy định tại Điều 4 của Nghị định này chỉ đạo rà soát, tổng hợp và ban hành Quyết định phê duyệt danh sách các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030 trên phạm vi toàn quốc.

- Kinh phí thực hiện: Kinh phí tổ chức thực hiện rà soát, xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030 do ngân sách nhà nước đảm bảo theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hiện hành./.

Admin Ban Tuyên giáo
Tin tức sự kiện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0